Triển vọng trồng ngô lai ở Mộc Châu

    11/13/2008 9:52:44 AM

    Sau khi thí nghiệm tại cao nguyên Mộc Châu, các nhà khoa học thuộc Viện Nghiên cứu Ngô (Viện Khoa học Nông nghiệp Việt Nam) kết luận, VN 8960 và LVN 99 là hai giống có thể đưa vào luân canh theo hướng tăng vụ, nhằm hình thành vùng sản xuất ngô hàng hóa.

    Phương pháp nghiên cứu

    Chọn 5 giống ngô: LVN 10, B9698, LVN 99, VN 8960 và SB 07-210, trong đó LVN 10 là giống đối chứng.

    Thí nghiệm được bố trí theo khối ngẫu nhiên hoàn thiện với 3 lần nhắc lại, 6 hàng/ô, thực hiện tại xã Phiêng Luông (Mộc Châu).

    - Thí nghiệm so sánh gieo trồng theo khoảng cách 70 x 25cm, mật độ 5,7 vạn cây/ha.

    - Giống LVN 10 và VN 8960 gieo với mật độ 5,7-6,3 và 6,7-8,3 vạn cây/ha.

    - Phân bón (kg/ha): 90kg N + 90kg P2O5 + 90kg K2O cho mật độ 5,7 vạn cây/ha; mật độ cao hơn, phân bón tăng theo tỷ lệ.

    Kết quả, giống LVN10 có thời gian sinh trưởng 120 ngày; giống SB 07-210 khoảng 100 ngày; LVN 99, VN 8960 là 108 ngày. Như vậy, thời gian sinh trưởng của các giống tham gia thí nghiệm có sự chênh lệch đáng kể. Chiều cao cây và chiều cao đóng bắp là những chỉ tiêu quan trọng để đánh giá khả năng, sinh trưởng phát triển, chống đổ, gãy của cây. Chiều cao cây của các giống tham gia thí nghiệm đều ở mức trung bình và thấp hơn giống đối chứng (213,5m so với 194,6m), chiều cao đóng bắp của các giống thí nghiệm chiếm tỷ lệ nhỏ hơn 50% so với chiều cao cây.

    Năng suất và hiệu quả kinh tế

    Năng suất thực thu dao động từ 67 đến 91,9 tạ/ha, cao nhất là giống VN 8960 (91,9 tạ/ha), thấp nhất là (67 tạ/ha). Các giống LVN 99, VN 8960 và SB 07-210 đều có năng suất thực thu vượt đối chứng; trong đó giống VN 8960 và LVN 99 năng suất vượt đối chứng 37,2% và 36,1%; lợi nhuận tăng so với đối chứng tương ứng 11,2 và 10,9 triệu đồng/ha.

    Với giống LVN10, khi trồng thử nghiệm với các mật độ khác nhau cho hiệu quả kinh tế khác nhau. Với mật độ 6,7 vạn cây/ha, năng suất cao nhất 83, 65 tạ/ha. Các chi phí như công lao động, thuế đất... như nhau ở các mật độ nhưng chi phí giống và phân bón khác nhau. Tăng mật độ từ 5,7 vạn cây/ha lên 6,7 vạn cây/ha thì lợi nhuận tăng lên 8,6 triệu đồng/ha.

    Với giống VN 8960, mật độ 6,7 vạn cây/ha đạt năng suất cao nhất 95,28 tạ/ha, cao hơn đối chứng (mật độ 5,7 vạn cây/ha). Các mật độ còn lại đều cho năng suất cao hơn đối chứng nhưng không có ý nghĩa về mặt so sánh. Ngoại trừ chi phí về giống và phân bón là khác nhau, các chi phí khác là giống nhau ở các mật độ thí nghiệm. Chi phí phân bón và giống ở mật độ 8,3 vạn cây/ha tăng cao nhất so với đối chứng (2,44 triệu đồng/ha) nhưng lợi nhuận ở mật độ 6,7 vạn cây/ha cao nhất. Tăng mật độ từ 5,7 vạn cây/ha lên 6,7 vạn cây/ha, lợi nhuận tăng lên 6,5 triệu đồng/ha.

    Như vậy, VN 8960 và LVN 99 là hai giống thích hợp nhất với điều kiện sinh thái của huyện Mộc Châu, có thể đưa vào công thức luân canh theo hướng tăng vụ. Khi thay giống LVN10 bằng giống VN 8960 hoặc LVN99, lợi nhuận tăng trên 10 triệu đồng/ha. Mật độ phù hợp nhất cho hai giống LVN10 và VN8960 trên đất Mộc Châu là 6,7 vạn cây/ha.

    Ngụy Thị Hương Lan

Ý kiến bạn đọc

Nông nghiệp Thủ đô hội nhập và phát triển

Vĩnh Quỳnh: Ruộng đồng thẳng cánh cò bay

Vĩnh Quỳnh: Ruộng đồng thẳng cánh cò bay

KTNT - Mặc dù bà con nông dân ngày càng nhận thức được lợi ích của việc dồn điền đổi thửa (DĐĐT), một trong những mắt xích quan trọng của chương...