Nông nghiệp sau hơn 20 năm đổi mới: Thành tựu to lớn nhưng không được chủ quan

    9/6/2007 2:52:13 PM

    Thắng lợi rõ rệt nhất của NN là tạo ra và duy trì quá trình tăng trưởng sản xuất với tốc độ nhanh trong thời gian dài. Từ năm 1986 - 2005, giá trị sản xuất nông nghiệp tăng bình quân 5,5%/năm. Trong giai đoạn khủng hoảng kinh tế, sự tăng trưởng của NN như “tấm đệm” dẻo dai che đỡ mọi biến động, tạo thăng bằng cho nền kinh tế.

    Thắng lợi lớn thứ hai là đã cơ bản đảm bảo an ninh lương thực. Năm 1989 ở miền Bắc, khoảng 39,7% số hộ nông nghiệp của 21 tỉnh thành bị đói. Chính sách đổi mới đã tạo nên sự thần kỳ: sản lượng lương thực bình quân đầu người tăng liên tục, giải quyết được vấn đề an ninh lương thực.

    Các vùng sản xuất tập trung hình thành ngày càng nhiều đã góp phần tăng nhanh hàng hoá xuất khẩu, tạo điều kiện thuận lợi cho việc áp dụng tiến bộ kỹ thuật, gắn sản xuất nông nghiệp với công nghiệp chế biến và tiêu thụ sản phẩm. Năm 1985, kim ngạch xuất khẩu nông sản đạt 400 triệu USD, đến năm 2004 đạt 4, 2 tỷ USD, chiếm 24% tổng kim ngạch xuất khẩu cả nước. Nhờ áp dụng giống mới và kỹ thuật tiến bộ trong khâu canh tác và sau thu hoạch nên giá trị sản xuất trên một đơn vị diện tích liên tục tăng, chất lượng nông sản được nâng cao.

    NN đã tạo nhiều việc làm, xoá đói giảm nghèo (tỷ lệ hộ đói nghèo giảm 2%/năm). Trước đổi mới, số người sống dưới mức đói nghèo là 60%, năm 2003 giảm xuống còn 29% và năm 2006 còn 19%. Mức giảm đói nghèo ấn tượng này chỉ có Việt Nam và Trung Quốc đạt được trong thời gian qua, chủ yếu là nhờ thành tựu to lớn trong lĩnh vực nông nghiệp, phát triển nông thôn. Trong khi công nghiệp và dịch vụ còn đang lấy đà thì nông nghiệp và kinh tế nông thôn vẫn là nơi tạo việc làm chính cho dân cư nông thôn, giai đoạn 1995 – 2003, lao động nông thôn tăng thêm 3 triệu người...

    Môi trường được cải thiện một cách rõ rệt. Thập kỷ 90 của thế kỷ 20 chứng kiến những bước ngoặt quan trọng về nhận thức và hành động của lâm nghiệp, chuyển từ khai thác rừng tự nhiên sang bảo vệ rừng, tăng đầu tư trồng mới, khoanh nuôi; xã hội hoá hoạt động trồng và bảo vệ rừng. Chương trình Phủ xanh đất trống đồi núi trọc (327), Chương trình trồng mới 5 triệu hecta rừng cùng các chính sách giao đất, giao rừng và hạn chế khai thác gỗ đã góp phần tăng tỷ lệ che phủ rừng từ 33,2% (năm 1999) lên 38% (năm 2006).

    Công tác thuỷ lợi và phòng chống thiên tai có chuyển biến tích cực. Đến nay, cả nước có 75 hệ thống thuỷ lợi lớn; 800 hồ chứa lớn; 3.500 hồ chứa dung tích trên 1 triệu m3; trên 1.000 trạm bơm; hàng vạn công trình khác có khả năng tưới trực tiếp cho 3, 45 triệu hecta, tiêu cho 1, 7 triệu hecta, ngăn mặn 0, 87 triệu hecta, cải tạo chua phèn 1, 6 triệu hecta và cấp hơn 5 tỷ m3/năm cho sinh hoạt và công nghiệp. Bên cạnh đó, hệ thống đê điều đồ sộ với 5.700km đê sông, 2.000km đê biển, 23.000km bờ bao làm nền cho công tác phòng chống thiên tai.



    Thời gian vừa qua, chúng ta đã liên tục bàn về cơ hội và thách thức của Việt Nam trước yêu cầu mới của hội nhập kinh tế quốc tế, vậy trong NN thì cơ hội và thách thức đó là gì, thưa ông?

    Lợi ích lớn nhất mà được hưởng khi gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) là môi trường kinh doanh minh bạch, bình đẳng; hàng hoá, dịch vụ dồi dào; chất lượng cao, giá cả cạnh tranh; vốn đầu tư nước ngoài sẽ tăng mạnh. Chúng ta được hưởng mức thuế xuất nhập khẩu ưu đãi (MFN) của 149 nước thành viên, do đó sẽ tạo điều kiện mở rộng thị trường xuất khẩu. Hệ thống pháp lý phù hợp với thông lệ quốc tế sẽ khuyến khích tất cả thành phần kinh tế tham gia đầu tư.

    Tuy nhiên, bên cạnh đó còn rất nhiều thách thức, bởi trình độ phát triển NN nhìn chung còn thấp, quy mô sản xuất nhỏ, năng suất lao động chưa cao, chất lượng nông sản kém đồng đều. Trong khi những cam kết về mở cửa thị trường trong WTO sẽ là bài toán khó đối với ngành hàng có khả năng cạnh tranh thấp. Ví dụ: mía đường sẽ chịu tác động mạnh nhất từ Khu vực mậu dịch tự do ASEAN (AFTA) do phải mở cửa thị trường cho Thái Lan, đối thủ xuất khẩu đường lớn thứ 3 thế giới. Rau quả chịu ảnh hưởng nhiều từ Khu vực mậu dịch tự do ASEAN – Trung Quốc. Và thực tế, từ một nước xuất siêu rau quả sang Trung Quốc, sau 3 năm thực hiện Chương trình thu hoạch sớm, Việt Nam trở thành nước nhập siêu rau quả từ Trung Quốc.

    Có thể nói, sức ép của tự do hoá thương mại sẽ không làm mất đi một ngành, nhưng một số doanh nghiệp, bộ phận dân cư sẽ gặp khó khăn hơn, thậm chí phải chuyển đổi sang ngành khác, sản phẩm khác do khả năng cạnh tranh thấp.

    Theo ông, NN phải áp dụng những giải pháp gì để đáp ứng và vững vàng hơn trước những yêu cầu mới của hội nhập kinh tế quốc tế?

    Chính phủ đã đề ra Chương trình hành động kèm theo Nghị quyết 16/2007/NQ-CP ngày 27/2/2007 nêu rõ những nội dung, định hướng, giải pháp và phân công trách nhiệm cụ thể cho các bộ, ngành và địa phương. Riêng ngành NN, thời gian tới sẽ phải thực hiện đồng bộ các giải pháp sau:

    Phát triển khoa học – công nghệ làm cơ sở đảm bảo năng suất, chất lượng, hiệu quả và sức cạnh tranh theo hướng ưu tiên các giống cây – con cho năng suất, chất lượng cao; chú trọng công nghệ tái sản xuất phân vi sinh, phân hữu cơ sinh học, thuốc trừ sâu sinh học, thuốc thú y và vắc -xin thế hệ mới...

    Tiếp tục đổi mới cơ chế, chính sách phát triển NN, nông thôn. Về nông nghiệp, hướng dẫn các địa phương và nông dân lựa chọn ngành hàng chủ lực có lợi thế, khả năng phát triển lớn; về lâm nghiệp, tiếp tục đẩy mạnh giao đất, khoán rừng, khuyến khích nhân dân tham gia trồng và bảo vệ rừng. Điều chỉnh chính sách khuyến khích đầu tư tư nhân trong và ngoài nước vào lĩnh vực công nghiệp, ngành nghề và dịch vụ nông thôn; huy động mọi thành phần kinh tế đầu tư phát triển và kinh doanh thiết chế hạ tầng kinh tế – xã hội, văn hoá, giáo dục.

    Phát triển mạnh mẽ nguồn nhân lực, mở rộng các trường đào tạo nghề và đa dạng hình thức đào tạo nghề cho lao động nông thôn, đào tạo cán bộ quản lý hợp tác xã, chủ trang trại, chủ doanh nghiệp...

    Đổi mới công tác xây dựng và tổ chức thực hiện; sắp xếp bộ máy quản lý từ Trung ương đến cơ sở, phân cấp cho các tỉnh, thành phố trong đầu tư phát triển và quản lý để chỉ đạo sâu sát, kịp thời, tạo hành lang thông suốt từ sản xuất, chế biến tới tiêu thụ. Thực hiện cải cách hành chính trong các lĩnh vực có quan hệ trực tiếp với dân, nhất là các thủ tục về xây dựng cơ bản, quản lý vốn sự nghiệp; kiểm dịch động – thực vật; xuất - nhập khẩu hàng nông – lâm sản, vật tư nông nghiệp; quản lý đê điều, tài nguyên nước, kiểm lâm...

    Xin chân thành cảm ơn Thứ trưởng!

    Minh Huệ (thực hiện)

Ý kiến bạn đọc

Nông nghiệp Thủ đô hội nhập và phát triển

Vĩnh Quỳnh: Ruộng đồng thẳng cánh cò bay

Vĩnh Quỳnh: Ruộng đồng thẳng cánh cò bay

KTNT - Mặc dù bà con nông dân ngày càng nhận thức được lợi ích của việc dồn điền đổi thửa (DĐĐT), một trong những mắt xích quan trọng của chương...