 |
| Sông Nhuệ đoạn chảy qua quận Hà Đông (Hà Nội) bị ô nhiễm nghiêm trọng. |
KTNT - Theo Cục Thuỷ lợi (Bộ Nông nghiệp và PTNT), tình trạng ô nhiễm trên một số hệ thống thuỷ nông (HTTN) ngày càng trầm trọng, trong đó điển hình là HTTN sông Nhuệ. Vấn đề quản lý chất thải, đặc biệt là rác thải vào các hệ thống thuỷ lợi đang đặt ra ngày càng cấp bách...
Ô nhiềm từ nhiều nguồn
Theo khảo sát mới đây của Cục Thuỷ lợi, tình trạng ô nhiễm ở HTTN sông Nhuệ rất phức tạp, luôn biến động theo không gian và thời gian. Thời gian gần đây, sông Nhuệ đã liên tục xảy ra những sự cố về môi trường thuộc địa phận tỉnh Hà Nam. Nước sông có màu đen kịt, bốc lên nồng nặc làm cá chết hàng loạt. Gần đây nhất là tháng 3/2009, hàng tấn cá đã chết dọc hai bên bờ sông Nhuệ đoạn từ cầu Diễn chảy qua địa phận quận Hà Đông.
Nguyên nhân chính gây ô nhiễm sông Nhuệ được xác định là do nước thải sinh hoạt, chất thải làng nghề và chất thải công nghiệp. Được biết, HTTN sông Nhuệ hàng ngày bị “tấn công” bởi một lượng chất thải từ TP. Hà Nội qua các cống chính như: Xuân La, Đồng Bông, Thanh Liệt,... Ngoài ra, nó còn phải nhận một lượng nước thải lớn từ các khu vực tập trung đông dân cư như thị trấn Cầu Diễn, quận Hà Đông (Hà Nội); thị trấn Đồng Văn (Hà Nam) và một phần của TP. Phủ Lý (Hà Nam). Ước tính, lượng nước thải chảy vào sông Nhuệ lên đến 500.000m3/ngày đêm. Bên cạnh đó, sự phát triển của các làng nghề dọc hai bờ sông cũng góp phần không nhỏ vào sự ô nhiễm của HTTN này như: làng nghề chế biến lương thực thực phẩm Cát Quế, Dương Liễu (Hoài Đức); làm bún Kỳ Thuỷ, Thanh Lương, Bích Hoà (Phú Xuyên); dệt nhuộm Vạn Phúc (Hà Đông)...
|
Qua kết quả giám sát chất lượng nước của Viện Khoa học thuỷ lợi Việt Nam thấy, chất lượng nước tại đoạn thượng lưu sông Nhuệ có thể đảm bảo cung cấp nước sinh hoạt sau khi đã xử lí hàm lượng cặn lơ lửng và Coliform. | Đáng ngại hơn, nhiều khu công nghiệp (KCN) đổ trực tiếp chất thải chưa qua xử lý vào hệ thống như: Minh Khai, Trương Định - Đuôi Cá, Văn Điển - Pháp Vân, Cầu Diễn - Nghĩa Đô... Chỉ một số ít KCN có đầu tư hệ thống xử lý chất thải như: KCN vừa và nhỏ Vĩnh Tuy - Thanh Trì, cụm CN Ngọc Hồi, cụm CN vừa và nhỏ Từ Liêm, KCN Nam Thăng Long...
Trong khi nạn ô nhiễm tiếp tục hoành hành các HTTN trên cả nước thì số tiền đầu tư cho thuỷ lợi còn thấp, suất đầu tư chỉ đạt 1.000 - 2.000 USD/ha; công trình xây chưa đồng bộ, thiếu hoàn chỉnh; nhiều công trình đã cũ và xuống cấp. Theo tính toán của Cục Thủy lợi, năng lực phục vụ hiện tại của HTTN trên cả nước chỉ đạt 60% so với năng lực thiết kế.
Đầu tư chưa tương xứng
Mới đây, những khảo sát đo đạc của Viện Quy hoạch thuỷ lợi Việt Nam trên sông Nhuệ cho thấy, nguồn nước của sông đang bị ô nhiễm nặng từ cầu Tó, điểm nhận nước thải lớn nhất từ sông Tô Lịch. Qua các năm, tình trạng ô nhiễm ngày càng tăng. Chất lượng nước không đảm bảo bởi các yếu tố chính như hàm lượng chất hữu cơ cao; nhu cầu ôxy sinh học, hoá học cao; hàm lượng các chất chứa nitơ và phốtpho khá lớn.
Ngoài ra, ông Nguyễn Hữu Thoả (Cục Thuỷ lợi) cũng cho rằng, việc vận hành chưa hợp lý cũng dẫn đến tình trạng ô nhiễm thêm trầm trọng. Ông Thoả lấy ví dụ, tháng 11/2005, do ô nhiễm trên hệ thống sông Nhuệ và mở 2 cống La Khê và Vân Đình đã dẫn đến tình trạng ô nhiễm từ sông Nhuệ qua sông Đáy làm tê liệt hệ thống trạm bơm cấp nước ở thị xã Phủ Lý, dẫn đến việc người dân không có nước sinh hoạt.
“Trên thực tở, các HTTN làm chức năng tiêu thoát nước thải chứ không phải làm chức phận tưới tiêu phục vụ sản xuất nông nghiệp!”, ông Thoả cho biết thêm. Theo ông Thoả, bên cạnh những khó khăn về nội tại công trình thì những chính sách, thể chế và công tác quản lý cũng gây ra những bất lợi trong việc giải quyết hài hoà các lợi ích. Cụ thể, ông Thoả cho rằng, đầu tư phát triển nguồn nước luôn được Đảng và Nhà nước quan tâm nhưng đầu tư cho hiệu ích tổng hợp của nguồn nước chưa nhất quán và chưa đầy đủ; đầu tư cho điều tra cơ bản tạo cơ sở dữ liệu, cho quy hoạch, giám sát và quản lý... chưa tương xứng với nhu cầu.
Được biết, nhằm giám sát mức độ ô nhiễm của một số hệ thống thuỷ lợi, Cục Thuỷ lợi đã từng bước thiết lập mạng giám sát chất lượng nước. Tuy nhiên, do kinh phí có hạn, từ năm 2004 đến nay, Cục mới giám sát thí điểm môi trường nước trong 8 hệ thống với tần suất giám sát chưa đều.
|
Cả nước hiện có 110 HHTL vừa và lớn (diện tích phục vụ trên 2.000ha). Ngoài ra, còn có 1.975 hồ chứa có dung tích trên 200.000m3; trong đó có 79 hồ có dung tích 10 triệu mét khối; 66 hồ dung tích 5-10 triệu mét khối; 442 hồ có dung tích từ 1-5 triệu mét khối; 1.370 hồ có dung tích từ 200.000 - 1 triệu mét khối và khoảng 3.000-3.500 hồ chứa nhỏ. |
Hữu Nguyên |