Đình làng phố cổ: “Kho” kiến trúc điêu khắc Việt truyền thống

    13/06/2010 - 10:55:18

    Độc đáo nét kiến trúc Việt

    Theo phong tục tín ngưỡng trong xã hội Việt Nam cổ đại, đình không chỉ là nơi thờ Thành Hoàng mà còn là trung tâm hành chính, quản trị phục vụ cho mọi hoạt động thuộc về cộng đồng làng xã. Đây cũng là nơi diễn ra các lễ hội làng truyền thống, nơi sinh hoạt văn hóa, văn nghệ của làng.

    Hà Nội thế kỉ 15, cùng với việc hình thành các phường nghề tạo thành “khu 36 phố phường”, với cơ cấu xã hội và chính trị được mô phỏng theo kiểu làng truyền thống, các đình cũng được xây dựng, là nơi tập trung và đưa ra các quyết định của phường. Đình ở các phường nghề của đất Kinh Kỳ cũng có kiến trúc tương tự như các đình ở các làng quê thuộc đồng bằng Bắc bộ khác với những nét đặc trưng tiêu biểu.

    Về mặt tạo hình, các nhà nghiên cứu đều thống nhất rằng, đình làng là gương mặt của nền kiến trúc Việt cổ. Nó là nơi bảo tồn khá trọn vẹn những đặc điểm của nền kiến trúc dân tộc bởi ít phải chịu ảnh hưởng của kiến trúc ngoại sinh. Về mặt bằng tổng thể, trước đình làng luôn là ao (tròn hoặc bán nguyệt), tiếp đến là sân đình với nhiều hàng cây cổ thụ. Đây là hai yếu tố quan trọng tạo nên diện mạo đình làng mà các kiến trúc gia nước ngoài thường gọi là “nền kiến trúc họa cảnh”. Tòa đình chính (đại đình) thường là một căn nhà lớn lợp ngói mũi kiểu bốn mái xòe rộng ra ôm lấy đất. Thế nhưng, bốn tàu mái cao rộng đó không trở nên nặng nề nhờ bốn góc có bốn tầu đao cong vút như nâng các tàu mái bay bổng. Kiểu mái này chính là đặc điểm nổi bật của kiến trúc truyền thống Việt Nam, khác hẳn với kiểu tàu hộp hay giả tàu của nền kiến trúc Trung Hoa mà ta thường thấy trên hầu hết các mái nhà ở cố đô Huế.

    Đình làng ở khu 36 phố phường được phát triển từ thế kỷ 15, phổ biến loại bốn mái, có khi cũng phát triển thêm loại tám mái (kiểu chồng diêm) do những ảnh hưởng của kiến trúc Trung Hoa về sau này. Mặt bằng đình có thể là kiểu chữ Nhất (kiểu này thường thấy ở các đình cổ, thế kỷ XVI); hoặc quy mô, phức tạp hơn với những bố cục mặt bằng chữ Đinh, chữ Nhị, chữ Công, chữ Môn (chữ Hán)...Đây là các dạng mặt bằng xuất hiện về sau, bổ sung cho sự phong phú của đình làng Việt Nam nói chung và đình làng ở Hà Nội nói riêng, đi liền với quá trình phát triển thêm về mặt chức năng của đình làng
    Không gian cảnh quan, kiến trúc đình làng thường phát triển cả phía sau, phía trước và hai bên, với nhiều hạng mục: hậu cung, ống muỗng (ống muống), tiền tế, các dãy tả vu, hữu vu, tam quan, trụ biểu, hồ nước, thủy đình,... Trong bố cục đó, không gian chủ yếu vẫn là tòa đại đình (đại bái), là nơi diễn ra các hoạt động hội họp, ăn khao, phạt vạ... của dân làng. Đại đình bao giờ cũng là tòa nhà lớn nhất trong quần thể, bề thế, trang trọng. Đại đình ở các đình cổ thường có sàn lát ván, cao từ 60-80cm, chia làm 3 cốt cao độ, phân chia thứ bậc của người ngồi. Ở những tòa đại đình của các ngôi đình chưa có hậu cung, bàn thờ Thành hoàng được đặt ở chính gian giữa, gian này không lát ván sàn và có tên là "Lòng thuyền". Hậu cung là nơi đặt bàn thờ Thành hoàng. Trong hậu cung có cung cấm, là nơi đặt bài vị, sắc phong của vị thần làng. Xung quanh hậu cung thường được bít kín bằng ván gỗ, tạo không khí uy nghiêm và linh thiêng.

    Giá trị điêu khắc dân gian

    Nói đến kiến trúc của đình làng không thể không nhắc đến giá trị về mặt điêu khắc dân gian. Đây là thế giới cho nền nghệ thuật điêu khắc dân gian phát triển mạnh mẽ. Trên các vì kèo, tất cả các đầu bẩy, đầu dư, đố, xà kẻ, ván gió, ván nong. .. là nơi các nghệ sĩ điêu khắc dân gian chạm khắc các đề tài tái hiện cuộc sống và lao động của con người, cảnh sắc thiên nhiên, đất nước. Chính điều này đã làm nên giá trị lịch sử sâu sắc cho đình làng. Kiến trúc đình làng, nhất là đình làng ở miền Bắc cũng như đình làng của Hà Nội, mang đậm dấu ấn văn hóa, độc đáo và tiêu biểu cho kiến trúc điêu khắc Việt truyền thống, là kho tàng hết sức phong phú của điêu khắc Việt Nam trong lịch sử. Điêu khắc cũng tồn tại ở chùa, đền, các kiến trúc tôn giáo khác, nhưng không ở đâu nó được biểu hiện hết mình như ở đình. Nói điêu khắc đình làng cũng là nói đến nghệ thuật trang trí đình làng. Điêu khắc ở đây là điêu khắc trang trí. Người thợ làm đình chẳng những thành thạo trong việc dựng đình mà còn biết tô điểm cho ngôi đình thêm đẹp. Hầu như trên các thành phần của kiến trúc đình làng đều được các nghệ nhân xưa dùng bàn tay điêu luyện của mình chạm khắc thành những hình mẫu có giá trị nghệ thuật cao.

    Có thể nói đình là một khối điêu khắc trong không gian, đầy chi tiết tinh tế, nhưng cũng đầy tính khoa học kiến trúc. Nói về đường nét, đình là nơi hội tụ những mô típ trang trí tuyệt hảo, gồm nhiều xu hướng: hiện thực, cách điệu và đồ họa. Chính sự giàu có và phong phú về nghệ thuật điêu khắc dân gian mà các ngôi đình ở Hà Nội cũng như ở đồng bằng Bắc bộ đã làm nên những giá trị kiến trúc thuần Việt rất quý giá. Việc xếp những ngồi đền trong khu “36 phố phường” vào diện được “bảo vệ đặc biệt” là rất cần thiết.
    CTO

Ý kiến bạn đọc