Điện Biên Phủ, chuyện kể của những anh hùng

    06/05/2009 - 12:21:00

    KTNT - Sự hân hoan, tự hào trong niềm vui chiến thắng, giọt nước mắt thương nhớ đồng đội đã hy sinh và cả những kỷ niệm không thể nào quên của một thời oanh liệt đã được những người lính từng tham gia chiến dịch Điện Biên Phủ kể lại trong cuộc giao lưu “55 năm, bản anh hùng ca Điện Biên Phủ” do Bảo tàng Cách mạng Việt Nam tổ chức. Trong cuộc chiến, họ từng là anh hùng, với những chiến công hiển hách, về với đời thường, sự giản dị, chất lính trong con người họ không thể mất đi. Chính vì vậy, họ đã truyền lửa cho những người tham dự buổi giao lưu để được thấy trận đánh hào hùng của 55 năm về trước.

    Câu chuyện về 5 ngón tay

    Tham gia buổi giao lưu, Trung tướng Phạm Hồng Cư, nguyên Phó chính uỷ trung đoàn 36, đại đoàn 308 kể về câu chuyện 5 ngón tay của Bác Hồ như một huyền thoại về sách lược, chiến lược đấu tranh của quân và dân ta trong chiến cuộc đông xuân 1953 - 1954 mà đỉnh cao là trận Điện Biên Phủ.

    “Tháng 9/1953, Đại tướng Võ Nguyên Giáp từ Sở chỉ huy về Tỉn Keo (Thái Nguyên) gặp Bác Hồ để dự cuộc họp của Bộ Chính trị bàn về kế hoạch tác chiến. Lúc đó, tình hình chiến trường rất căng thẳng, người Pháp vì muốn tăng cường lực lượng, cứu vãn tình thế đã cử tướng Nava sang làm chỉ huy quân đội ở Đông Dương, vạch ra một kế hoạch quân sự hòng giành thắng lợi trên mọi chiến trường, làm điều kiện cho một giải pháp chính trị để kết thúc chiến tranh trong danh dự. Khi đồng chí Võ Nguyên Giáp báo cáo về kế hoạch quân sự Nava, Bác Hồ nghe rất chăm chú, bình thản, bàn tay Bác đặt ở trên bàn bỗng giơ lên và nắm lại. Bác nói: “Địch tập trung quân cơ động để tạo nên sức mạnh. Không sợ! Ta buộc chúng phải phân tán ra thì sức mạnh đó không còn”. Bàn tay Bác mở ra, năm ngón tay, mỗi ngón trỏ về một hướng. Năm ngón tay của Bác ứng với năm đòn tiến công chiến lược trước Điện Biên Phủ, đó là: Giải phóng Lai Châu, bao vây Điện Biên Phủ; phối hợp với quân đội Pa -thét (Lào) giải phóng nhiều địa phương ở trung Lào và hạ Lào; giải phóng Kon Tum và miền Bắc Tây Nguyên; giải phóng Phông Sa Lỳ và lưu vực sông Nậm Hu, tiến sát Luông pha băng; thắng lợi của các chiến trường phối hợp ở Đồng bằng Bắc Bộ, Bình Trị Thiên, Trung Trung Bộ, cực Nam Trung Bộ, Nam Bộ. Các đòn tiến công chiến lược này buộc Nava phải phân tán lực lượng đối phó và kế hoạch Nava từng bước phá sản”, Trung tướng Cư nhớ lại.

    Đại tướng Võ Nguyên Giáp báo cáo về chiến dịch Điện Biên Phủ. Ảnh tư liệu.

    Trong tâm tưởng người lính già, những ngày tham gia các trận đánh nhằm phá vỡ kế hoạch Nava như vừa diễn ra ngày hôm qua. Đã có bao đồng chí hy sinh trên chiến hào, các chiến sĩ khác lên thay thế nhưng bù lại, quân và dân ta đã giáng một đòn phủ đầu lên thực dân Pháp, tiêu diệt một bộ phận quan trọng sinh lực địch, giải phóng nhiều vùng đất đai rộng lớn, phân tán cao độ lực lượng quân sự của địch, làm phá sản kế hoạch tập trung quân cơ động lớn của địch, tạo điều kiện cho chúng ta chuẩn bị đánh cứ điểm Điện Biên Phủ. Cũng trong trận chiến này, nhiều tấm gương anh hùng đã xuất hiện như Bế Văn Đàn lấy thân mình làm giá súng. Đêm 13/3/1954, ta tấn công tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ, sau 56 ngày chiến đấu, chiều 7/5/1954, quân ta đã chiếm lĩnh chỉ huy sở của địch, bắt sống tướng Đờ -cát-tơ-ri và toàn bộ ban tham mưu của địch. Tập đoàn Điện Biên Phủ hoàn toàn bị tiêu diệt. Với ông Cư, đó là những ngày đêm không ngủ, sôi sục ý chí đấu tranh, thể hiện bản chất Việt Nam, tinh thần Việt Nam. Và chính tinh thần ấy, ý chí ấy đã làm nên chiến thắng của dân tộc. “Cho đến bây giờ tôi vẫn ghi nhớ lời nói của Bác Hồ trong cuộc họp bàn kế hoạch tác chiến của Bộ Chính trị, chỉ có hai từ: “Không sợ” nhưng đã động viên tinh thần chiến sỹ, nhân dân, thể hiện sự sáng suốt, tài tình trong kế hoạch quân sự của Người mà ở đó tinh thần tiến công luôn được đặt lên hàng đầu”, ông Cư nói.

    Cách mạng đã thay đổi cuộc đời tôi

    Trong chiến dịch Điện Biên Phủ, lớp lớp thanh niên đã tình nguyện lên đường nhập ngũ. Tuổi xuân phơi phới, có người hôm qua là học sinh, có người là nông dân, hôm nay đã khoác trên mình bộ áo lính. Đại tá Phùng Văn Khầu, nguyên khẩu đội trưởng, khẩu đội 1, tiểu đội 1, đại đội 755, tiểu đoàn 275, trung đoàn 675 là một trong số đó. Vốn là người Nùng, quê ở Trùng Khánh (Cao Bằng), năm 16 tuổi, ông trốn khỏi nhà địa chủ xin nhập ngũ. Từ đây, cuộc sống của chàng thanh niên hiền lành nhưng không biết chữ bước sang trang mới, có cả vinh quang, có cả đớn đau. Tất cả những điều đó, ông nguyện khắc cốt ghi tâm như để nhớ về những đồng đội đã hy sinh khi cùng ông chia ngọt sẻ bùi.

    Phất cờ chiến thắng trên hầm Đờ-cát tơ-ri.


    Chuyện chàng pháo binh không biết chữ nhưng bắn bách phát bách trúng đã trở thành huyền thoại của chiến dịch Điện Biên Phủ. Trong lời kể của người lính già hôm nay, vẫn còn nguyên sự hào hùng, oanh liệt. ông nhớ lại: “Ngày 30/3/1954, đơn vị tôi được lệnh tấn công lên các cao điểm phía Đông nhưng chỉ thị của cấp trên là phải bắn tiết kiệm”. Với một người không biết chữ như ông Khầu, những thông số kỹ thuật trở thành vô nghĩa. “Tôi chỉ còn cách ước lượng bằng mắt từ nơi đặt pháo đến đồi E là khoảng 120m. Quả đầu tiên, sau khi đồng đội của tôi là Lý Văn Pao nạp đạn, tôi bắn trượt. Ngay lập tức, súng mẹ, súng con từ phía bên kia bắn sang chỗ chúng tôi vèo vèo, tôi báo cáo đại đội trưởng cần thay đổi điểm ngắm, nâng khoảng cách lên 160m, quả thứ hai bay vào tận hầm của địch và phát nổ rung trời lở đất, đại đội trưởng của tôi sung sướng hét lên: “Khầu ơi, cho nó thêm 2 quả nữa đi, cố gắng bắn trúng để còn được gặp Bác Hồ”. Lời động viên ấy đã khích lệ tôi rất nhiều, tôi bắn 22 phát, trúng 21 lô cốt của địch. Sau đó, tôi được Bác Hồ tặng huy hiệu chiến sỹ Điện Biên. Với tôi, đó là niềm vinh dự, tự hào rất lớn”.

    Với Trung tướng Phạm Hồng Cư, Đại tướng Võ Nguyên Giáp là người anh cả mẫu mực của Quân đội nhân dân Việt Nam.

    Nhưng chiến thắng nào cũng có mất mát, hy sinh. Nhớ lại trận đánh bên sông Nậm Rốm, giọng đại tá Khầu rưng rưng xúc động, có những lúc không kìm nén được ông đã khóc. Đó là khi đồng đội ông hy sinh gần hết, 7 đồng chí pháo thủ đã hy sinh, 11 đồng chí bị thương, cả khẩu đội còn lại 4 người; trong khi đó, ba khẩu pháo đã bị hỏng mất hai. Phía bên kia chiến tuyến, Pháp điều động tới 2 tiểu đoàn bộ binh, 5 xe tăng phản kích, xây dựng trận địa pháo 105 ly bên sông Nậm Rốm. Nhưng ông Khầu bảo, chẳng hiểu lúc đó có một sức mạnh tinh thần thôi thúc ông phải cố gắng bắn trúng để giữ an toàn cho khẩu pháo cuối cùng, để xứng đáng với các chiến sỹ đã phải đổ máu xương. “Hôm đó, tôi khóc rất nhiều vì thương anh em đồng đội nhưng khi nhìn thấy tấm huy hiệu chiến sỹ Điện Biên chợt có luồng sinh khí mới trong tôi, tôi gạt nước mắt, động viên tinh thần mọi người và ngồi vào vị trí chiến đấu. Và như có sức mạnh thần kỳ, chúng tôi đã hạ được 4 khẩu 105 ly, 2 khẩu đại liên mà chỉ tốn 15 viên đạn. Chỉ tiếc rằng trong trận ấy, đồng chí của tôi, Lý Văn Pao bị thương, phải đưa về tuyến sau điều trị, từ đó đến nay tôi chưa được gặp lại”, ông Khầu nói.

    Chiến dịch Điện Biên Phủ kết thúc, ông Khầu được đi học chữ và tiếp tục cuộc đời binh nghiệp trong kháng chiến chống Mỹ. Bây giờ, ông vui vầy cùng con cháu ở khu phố Sơn Lộc, thị xã Sơn Tây (Hà Nội). Nói về những ngày tháng tham gia kháng chiến, ông chỉ ngắn gọn bằng một câu: “Cách mạng đã thay đổi cuộc đời tôi”.

    55 năm có thể là quá dài cho một đời người nhưng với những người lính thì ký ức về một thời máu lửa sẽ còn mãi trong tâm trí. Những câu chuyện của họ cũng sẽ được viết tiếp, như bản hùng ca của một dân tộc kiên cường...

    Anh Thơ

Ý kiến bạn đọc

Dọc dài đất nước

Cửa Lò, điểm đến những ngày hè

Cửa Lò, điểm đến những ngày hè

KTNT - Biển hiền hòa, phong cảnh đẹp, bãi cát dài và phẳng, nhưng hấp dẫn hơn cả vẫn là tình người nồng hậu, chân thật, thức ăn ngon và rẻ, biển Cửa...