 |
| Miếu Bà Chúa Xứ. |
KTNT - Núi Sam, ngọn tiền đồn của dãy Thất Sơn hùng vĩ, mang nhiều dấu ấn của thời khai hoang lập ấp. Ngọn núi mà hơn trăm năm trước đã được Thoại Ngọc Hầu, người có công khai phá miền Hậu Giang ca ngợi là tươi đẹp. “Từ ngày dọn cỏ dẹp gai trở đi, rành rành chân núi trắng phau, trại trại ngọn tre xanh ngắt, cảnh núi trở nên tươi đẹp, sừng sững”. Núi Sam không chỉ có lăng Thoại Ngọc Hầu, mà còn có miếu Bà Chúa Xứ, chùa Tây An, chùa Hang... Trong đó, lễ hội Bà Chúa Xứ luôn là tâm điểm thu hút đông đảo khách thập phương.
Truyền thuyết về Bà chúa xứ
Miếu Bà Chúa Xứ nằm dưới triền núi Sam, được lập vào năm 1820, có kiểu kiến trúc hình chữ “Quốc”. Lúc đầu, miếu được cất bằng tre, lá. Khoảng năm 1962, miếu được trùng tu và lợp ngói âm dương. Từ lâu, ngôi miếu này đã được nhân dân quanh vùng biết đến. Họ truyền tụng nhau về sự linh thiêng của Bà Chúa. Mỗi truyền thuyết là một câu chuyện kỳ bí, chính sự bí ẩn này đã tạo sức hút cho các nhà nghiên cứu đến đây tìm hiểu pho tượng Bà. Kết quả khảo sát của các nhà nghiên cứu đã chỉ ra: Bên ngoài, tượng Bà khoác nhung y rực rỡ, gương mặt được tô vẽ, thể hiện vẻ đẹp của người phụ nữ với nụ cười hiền từ, nhân hậu. Toàn bộ pho tượng cao 1,25m, được đúc liền với một thớt đá cùng loại.
Với những đặc điểm trên, các nhà nghiên cứu đã khẳng định: Pho tượng này được tạc không theo phong cách của người Việt. Malleret, nhà khảo cổ học người Pháp cho rằng: Đây là loại tượng thần Visnu thường thấy ở ấn Độ, Mianma, Lào...; tượng tạc dáng người đàn ông ngồi nghỉ ngơi, vương giả. Cũng có ý kiến cho rằng, tượng của Bà là pho tượng Phật đàn ông của người Khmer bỏ quên lâu đời trên núi Sam. Người Việt đưa vào miếu, điểm tô lại nước sơn trở thành đàn bà. Mặc dù có những nhận định khác nhau, nhưng hầu hết các ý kiến đều khẳng định đây là pho tượng đàn ông. Đến đây, có một vấn đề đặt ra là, tại sao tượng đàn ông mà người dân Nam Bộ lại sơn phết thành đàn bà? Có thể điều này bắt nguồn từ tín ngưỡng thờ Mẫu của người Việt.
Nghi thức tế lễ
Hằng năm, trước lễ hội một tuần, khách thập phương đã đổ về thị xã Châu Đốc (An Giang). Trong những ngày vào hội, suốt đoạn đường dài 7km từ thị xã đến núi Sam, “ngựa xe như nước áo quần như nêm”. Đây cũng là dịp để nam thanh nữ tú vui chơi, thi tài, giao lưu, tìm hiểu lẫn nhau.
 |
|
"Thỉnh sắc" Thoại Ngọc Hầu từ Sơn Lăng về miếu. | Thế nhưng, các cuộc vui dù hấp dẫn đến mấy vẫn không giữ chân được số người ngưỡng mộ Bà chen nhau hướng về buổi lễ đầu tiên được cử hành vào lúc 0 giờ đêm 23 rạng ngày 24 tháng 4, gọi là lễ Mộc dục (lễ tắm Bà). Mở đầu, hai ngọn nến to ở trước tượng Bà được thắp sáng, ông Chánh bái trong bộ khăn đóng, áo dài bước đến chánh điện cùng với các bô lão trong làng niệm hương, dâng rượu, trà. Một nhóm gồm bốn hoặc năm phụ nữ được chọn lựa sẵn bước vào phía trong màn, chuẩn bị để tắm Bà. Họ lần lượt cởi mão, áo đai để lộ toàn thân pho tượng bằng đá. Một chậu nước thơm ngâm hoa lài (nhài), quế, có pha thêm nước hoa được đặt nơi chân. Những cô gái được phân công việc tắm Bà lần lượt nhúng từng chiếc khăn mới vào chậu nước thơm, vắt ráo rồi lau tượng nhiều lần. Sau đó, họ dùng nước hoa xịt khắp bức tượng rồi chọn bộ đồ mới đẹp nhất khoác lên bức tượng, thắt chặt đai, chít khăn, đội mão, gắn lại những ngọn đèn màu trang trí như cũ. Thường thường lễ tắm Bà kéo dài khoảng một giờ, sau đó bức màn ngăn được kéo lên để cho khách tự do chiêm bái, dâng hương, hoặc xin lộc Bà.
Lễ thứ hai mới là “chánh lễ”, còn gọi là lễ Túc yết, tổ chức vào nửa đêm 25 rạng sáng 26. Trước khi vào lễ, một đoàn người gồm các bô lão trong làng quần áo chỉnh tề, tiến từ miếu Bà sang lăng Thoại Ngọc Hầu để thỉnh sắc. Dẫn đầu có đội múa lân, các học trò lễ tay cầm cờ phướn đi hầu phía trước và sau chiếc kiệu sơn son thiếp vàng gọi là Long Đình. Đến điện thờ, ông Chánh bái làm lễ niệm hương, rồi thỉnh sắc đưa lên kiệu trở về miếu Bà. Ba chiếc bài vị mang tên Thoại Ngọc Hầu và tên bà vợ chánh Châu Thị Tế, bà vợ thứ Trương Thị Miệt được đặt trên bàn thờ ở chính điện. Bài vị thứ tư mang tên Hội đồng, ghi công lao các quan quân đã theo Thoại Ngọc Hầu xưa kia, được đặt riêng ở bàn thờ phía trước. Lễ vật dâng cúng gồm có: một con heo trắng, một đĩa huyết heo có kèm theo nhúm lông nhỏ. Một mâm trái cây, trầu cau, gạo, muối. Sau ba hồi chiêng, trống, nhạc lễ nổi lên, lễ dâng hương, dâng trà bắt đầu. Lễ Túc yết kết thúc bằng động tác của ông Chánh tế đốt bản văn tế cùng giấy vàng bạc.
Tiếp theo lễ cúng Túc yết là lễ Xây chầu được tiến hành ở nhà võ ca. Sau phần cầu nguyện của ông Chánh bái, xin cho mưa thuận gió hòa, đất đai phì nhiêu, mùa màng bội thu, dân chúng khỏe mạnh, yên vui, các loài quỷ dữ bị tiêu diệt, lễ Xây chầu bắt đầu bằng ba hồi trống lệnh.
Các nghi thức của lễ Chánh tế, lễ cuối cùng, được tổ chức vào tờ mờ sáng ngày 27, gần giống như nghi thức cúng Túc yết.
Tín ngưỡng Bà Chúa Xứ đóng vai trò hết sức quan trọng trong đời sống tinh thần của người Nam Bộ. Tín ngưỡng Bà Chúa Xứ đã thức tỉnh lương tri, lòng trắc ẩn của con người, giúp con người sống thiện hơn, tốt hơn. Đồng thời qua đó, tín ngưỡng Bà Chúa Xứ ở núi Sam còn góp phần nâng cao đời sống văn hóa tinh thần của người dân Nam Bộ.
Tiểu Khang |