Phát triển nguồn nhân lực nông thôn: Cần chiến lược đồng bộ

    14/01/2009 - 10:19:15

    Những gam màu ảm đạm

    Trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, ngành nông nghiệp đang dần được cơ cấu lại theo hướng sản xuất hàng hoá quy mô lớn. Lao động nông thôn, nguồn nhân lực lớn nhất của xã hội đang tiếp tục chuyển bớt ra khỏi khu vực nông nghiệp, tham gia vào thị trường lao động công nghiệp, dịch vụ. Tuy nhiên, nguồn nhân lực nông thôn còn hạn chế về năng lực, trình độ, khả năng thích nghi đang là vấn đề đau đầu của các ngành chức năng.

    Theo Tổng cục Thống kê, dân số trung bình cả nước năm 2007 là 85,15 triệu người, trong đó khu vực nông thôn chiếm 72,6%. Giai đoạn 2000 – 2007, mỗi năm Việt Nam tăng thêm 1,07 triệu người. Dù đã di cư nhiều ra đô thị nhưng khu vực nông thôn vẫn tăng 0,42 triệu người/năm. Quá trình đô thị hoá nhanh và lao động dịch chuyển mạnh từ nông thôn ra thành thị khiến lao động thành thị tăng lên 4,7% so với 2% giai đoạn 1996 – 1997. Năm 1996, lao động nông thôn chiếm khoảng 80% tổng lực lượng lao động nhưng đến năm 2007, lao động nông thôn đã giảm còn 74,6%. Có thể thấy, tỷ lệ lao động nông thôn còn quá cao, tốc độ thu hút lao động ra khỏi nông nghiệp chậm. Một trong những nguyên nhân chính của tình trạng này là do công tác phát triển nguồn nhân lực nông thôn còn hạn chế.

    Trên thực tế, nền tảng đầu tiên của nguồn nhân lực là thể trạng và sức khoẻ, đây là kết quả tổng hợp của nhiều nhân tố: môi trường vệ sinh, chăm sóc sức khoẻ ban đầu, chế độ dinh dưỡng, khám chữa bệnh, điều kiện thể dục, thể thao, hưởng thụ văn hoá, học tập... Đáng buồn là, người dân nông thôn còn khó khăn khi tiếp cận những yếu tố trên và có sự cách biệt đáng kể so với đô thị. Do thu nhập, chế độ dinh dưỡng, nhà ở, nước sạch, vệ sinh môi trường hạn chế nên thể chất, sức vóc của cư dân nông thôn kém hơn đô thị. Tỷ lệ trẻ em suy dinh dưỡng cao hơn, chiều cao và cân nặng trung bình kém hơn. Điều này chứng tỏ, chất lượng của lao động nông thôn trong tương lai kém hơn so với thành thị.

    Nhìn vào chất lượng của mạng lưới y tế cơ sở sẽ thấy được thực trạng này. Hiện, cả nước có 10.339/10.732 xã có trạm y tế, trong đó 7.976 trạm y tế cần được nâng cấp, đặc biệt 1.183 trạm đã xuống cấp nghiêm trọng, không đủ khả năng đảm nhận nhiệm vụ chăm sóc sức khỏe ban đầu cho nhân dân; 393 xã, phường chưa có trạm y tế, 790 trạm là nhà tạm. Số trạm có cơ sở vật chất đạt tiêu chuẩn của Bộ Y tế chỉ chiếm 9,8%. Do thiếu kinh phí nên chỉ có 2/3 số trạm y tế có trang thiết bị còn sử dụng được. Mặt khác, chế độ đãi ngộ cho cán bộ y tế, nhất là ở vùng sâu, vùng xa chưa thoả đáng nên không khuyến khích họ bám trụ với nghề. Số lượng bác sỹ, dược sỹ ở tuyến huyện còn ít, chất lượng hạn chế và cơ cấu chưa hợp lý. Điều tra về mức sống dân cư Việt Nam cho thấy, chỉ có khoảng 15% người dân đến khám chữa bệnh tại trạm y tế xã khi ốm đau.

    Bên cạnh đó, tình trạng ô nhiễm môi trường đang là vấn đề nghiêm trọng ở nhiều vùng nông thôn. Trong sản xuất nông nghiệp, việc lạm dụng phân bón, thuốc bảo vệ thực vật làm ô nhiễm đất, nước và tỷ lệ thuốc tồn dư trong nông sản chưa được kiểm soát. Tại các làng nghề, ô nhiễm khói bụi, chất thải rất trầm trọng. Công tác quy hoạch, xây dựng kết cấu hạ tầng, quản lý môi trường phát triển công nghiệp và đô thị kém đang góp phần tạo nên những dòng sông chết, làng ung thư. ước tính, chỉ 2,5% chất thải rắn ở nông thôn được xử lý. Nông dân cũng là đối tượng thường xuyên phải sử dụng máy móc, công cụ sản xuất không đảm bảo an toàn, sử dụng hoá chất, thuốc bảo vệ thực vật thiếu kiểm soát. Thống kê của Cục Y tế Dự phòng (Bộ Y tế) cho thấy, có tới 20.000 trường hợp tai nạn lao động trong nông nghiệp với 1.500 trường hợp tử vong hàng năm; trên 5.000 ca nhiễm độc hoá chất, thuốc bảo vệ thực vật, trong đó hơn 300 ca tử vong.

    Nhưng đáng nói nhất là trình độ học vấn của lao động nông thôn còn thấp so với mặt bằng chung của cả nước. Số liệu điều tra năm 2005 của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội cho thấy, ở khu vực nông thôn, lao động có trình độ THPT chỉ chiếm 13,7%, tốt nghiệp trung học cơ sở 34,6%, tiểu học 20%. Tình trạng mù chữ đối với người lớn vẫn là thực tế đối với vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số. Tỷ lệ trẻ em bỏ học ở vùng nghèo, nhất là trẻ em nữ là thách thức lớn.

    Hạn chế này hiện đang ảnh hưởng trực tiếp đến công tác đào tạo nghề cho lao động nông thôn.

    Một mặt, lao động nông thôn bất lợi hơn so với lao động thành thị về thể trạng, sức khoẻ, mặt khác trình độ chuyên môn và kỹ năng nghề nghiệp của đối tượng này cũng là điều đáng bàn. Theo thống kê, 83% lực lượng lao động nông thôn chưa qua đào tạo, chỉ có hơn 2% có bằng cao đẳng hoặc đại học (khoảng 0,7 triệu người), 3% tốt nghiệp trung học chuyên nghiệp, 3% có chứng chỉ sơ cấp hoặc tập huấn nghề ngắn hạn, có tới 8,7% (gần 2,9 triệu người) gọi là công nhân kỹ thuật nhưng chưa được cấp bất kỳ loại văn bằng hoặc chứng chỉ nghề nghiệp nào.

    Trong khi đó, số liệu của Tổng cục Dạy nghề cho thấy, hiện cả nước có 2.052 cơ sở dạy nghề, chủ yếu là của Nhà nước, chỉ có 38% cơ sở ngoài công lập. Hàng năm, với năng lực của hệ thống cơ sở đào tạo nghề trên, chỉ có khoảng 1,7 triệu người được đào tạo. Hiện, bình quân mỗi doanh nghiệp nhỏ cần 6-7 lao động đã qua đào tạo. Như vậy, 240.000 doanh nghiệp trong cả nước cần 1,4 – 1,7 triệu lao động. Nhưng khả năng đáp ứng nhu cầu học nghề của hệ thống dạy nghề hiện tại là rất nhỏ. Đây là trở ngại và cũng là thách thức trước mục tiêu nâng cao tỷ lệ lao động nông thôn qua đào tạo đạt trên 50% vào năm 2020 .

    Cần chiến lược đồng bộ

    Thiết nghĩ, phát triển nguồn nhân lực cho nông thôn là nhiệm vụ liên quan đến nhiều mặt: thu nhập, môi trường, giáo dục, y tế và đào tạo nghề nên rất cần sự tham gia của nhiều ngành, nhiều cấp từ Trung ương tới địa phương. Bên cạnh các biện pháp tổng hợp như quy hoạch sản xuất, phát triển nông thôn mới..., chúng ta cần tập trung vào lĩnh vực chính. Thứ nhất, phải đảm bảo cho người dân nông thôn được hưởng chế độ chăm sóc y tế đạt chất lượng thông qua tuyên truyền, giáo dục, giúp đỡ cư dân nông thôn về sức khoẻ sinh sản, dinh dưỡng, chăm sóc sức khoẻ ban đầu, xây dựng các công trình vệ sinh môi trường căn bản (nhà tắm, nhà vệ sinh, giếng nước); đầu tư trang thiết bị và đội ngũ cán bộ đảm bảo chất lượng; thực hiện hỗ trợ một phần bảo hiểm y tế cho cư dân nông thôn và 100% cho đối tượng chính sách, đặc biệt khó khăn.

    Thứ hai, cần kết hợp tuyên truyền giáo dục và giúp đỡ nông dân nâng cao nhận thức về tầm quan trọng của giáo dục, đảm bảo phổ cập trung học phổ thông cho địa bàn nông thôn; đầu tư xây dựng trường học, nhà mẫu giáo, hệ thống trường học bán trú, nội trú ở vùng sâu, vùng xa; xây dựng, nâng cấp hạ tầng, trang thiết bị, tổ chức và đãi ngộ thoả đáng đội ngũ giáo viên đảm bảo chất lượng, cải tiến nội dung và phương pháp giảng dạy; hỗ trợ cho học sinh ở vùng khó khăn, đối tượng nghèo tiếp cận giáo dục một cách thuận lợi.

    Thứ ba, đổi mới công tác khuyến nông theo hướng tổ chức của nông dân, của cộng đồng; chủ động trong việc định hướng tiếp thu tiến bộ kỹ thuật. Tại vùng khó khăn, hỗ trợ xây dựng hệ thống khuyến nông tự nguyện do nông dân điều hành với sự trợ giúp của Nhà nước; tại vùng thuận lợi, khuyến khích xã hội hoá dịch vụ khuyến nông có chi trả.

    Thứ tư, xây dựng hệ thống trường dạy nghề ở địa phương gắn với các cơ sở sử dụng lao động về ngành nghề và kỹ năng cần thiết; có chính sách khuyến khích về đất đai, vốn, khoa học công nghệ, thuế... cho các thành phần kinh tế, cộng đồng dân cư đầu tư vào lĩnh vực đào tạo nghề. Đặc biệt, ưu đãi các doanh nghiệp, đơn vị sử dụng lao động trong và ngoài nước tự tổ chức đào tạo nghề. Tổ chức các dịch vụ cung cấp thông tin về cơ hội đào tạo và thị trường nghề nghiệp cho lao động nông thôn, cấp chứng chỉ nghề gắn với thẻ lao động cho người lao động nông thôn; hỗ trợ các tổ chức nông dân (nông hội, hợp tác xã,...) cùng đóng góp, xây dựng các quỹ đào tạo nghề để bà con chủ động tổ chức dạy nghề và chọn ngành nghề, chọn trường dạy nghề, chọn cán bộ đào tạo.

    Để đạt được mục tiêu đề ra trong Nghị quyết về nông nghiệp, nông dân, nông thôn, chúng ta cần phải áp dụng các biện pháp hết sức kiên quyết trong một chương trình mục tiêu quốc gia đồng bộ.

    TS. Đặng Kim Sơn
    (Viện trưởng Viện Chính sách và Chiến lược phát triển nông nghiệp, nông thôn)

Ý kiến bạn đọc