 |
| Chăn nuôi dê quy mô trang trại ở Inđônêxia. |
KTNT - Chăn nuôi gia súc nhai lại nhỏ là nghề quan trọng trong sản xuất nông nghiệp ở Inđônêxia. Hiện, 55% nông dân nước này tham gia chăn nuôi dê, cừu ở các quy mô, phương thức khác nhau. Chính phủ và chính quyền các cấp đều quan tâm tới ngành chăn nuôi nhiều ưu thế này.
Là vật nuôi truyền thống gắn liền với văn hóa, tập quán lâu đời của người dân nên dê, cừu là sự lựa chọn hàng đầu của đa số nông dân Inđônêxia. Hai vật nuôi này giúp người dân thu được nhiều lợi nhuận từ các sản phẩm: thịt, sữa, lông, da... Thêm vào đó, nuôi dê, cừu quay vòng nhanh, vốn đầu tư không cao, phù hợp với khả năng của đại đa số nông dân nên cơ hội phát triển rất lớn. Số đầu dê tăng trưởng liên tục, từ 12,722 triệu con (năm 2003) lên 14,874 triệu con (năm 2007). Cừu từ 7,811 triệu con lên 9,860 triệu con.
Chăn nuôi dê, cừu chủ yếu phát triển ở các tỉnh Đông Java, Tây Java, Center Java, chiếm 63% tổng đàn toàn quốc. Năm 2007, sản xuất thịt dê ở Inđônêxia đạt 63.411 tấn, thịt cừu 84.763 tấn. Đông Java là tỉnh sản xuất nhiều thịt dê nhất, chiếm 24% tổng sản lượng toàn quốc; thịt cừu chủ yếu được sản xuất ở Tây Java (chiếm 57% sản lượng). Các giống dê chủ yếu là giống địa phương Kacang; một số giống nhập nội như Saanen, Gem bong, Jumpani. Đặc biệt, giống Ettwa, con đực trưởng thành nặng 75-105kg, con cái trưởng thành 50 - 60kg, năng suất sữa 1 - 4 lít/con/ngày.
Hiện, có 3 giống cừu được chăn nuôi ở Inđônêxia là giống đuôi to, đuôi nhỏ và Garut. Các phiên chợ giống dê, cừu thường được tổ chức chung với các vật nuôi khác như trâu, bò, gia cầm, lợn,... vào thứ 3 và thứ 7 hằng tuần ở tất cả các huyện. Quy mô chăn nuôi nhỏ dưới 10 con rất phổ biến, quy mô 100 - 500 con/hộ chủ yếu ở miền Bắc Sumatra và các tỉnh Java.
Mấy năm gần đây, Inđônêxia tăng cường xuất khẩu dê, cừu, trong đó thị trường lớn nhất là Malaysia. Thu nhập từ chăn nuôi dê, cừu chiếm khoảng 20 - 30% tổng thu nhập của nông dân. Tuy nhiên, sản phẩm chủ yếu vẫn là thịt tươi chưa qua chế biến. Giá mỗi kilôgam thịt hơi từ 15.000 đến 17.000 Rupiah, tương đương 26.000 -29.000 đồng.
Phân dê cũng là nguồn lợi đáng kể với nông dân Inđônêxia. Hơn 60% phân bón cho cây trồng của nước này là phân dê, cừu, số còn lại được đưa vào hầm biogas để sản xuất khí sinh học.
Khó khăn cho sự phát triển ngành chăn nuôi gia súc nhỏ ở nước này chính là khả năng quản lý sản xuất của người dân chưa cao, hạn chế trong việc chủ động thức ăn xanh, phát triển trồng cỏ... Tuy nhiên, cơ hội để Inđônêxia phát triển ngành chăn nuôi dê, cừu trong những năm tới rất khả quan bởi đây là nghề truyền thống; nông dân có nhiều kinh nghiệm, khí hậu thuận lợi, sức tiêu thụ ngày càng tăng...
Chiến lược phát triển ngành chăn nuôi dê, cừu ở Inđônêxia là đẩy nhanh tỷ lệ chăn nuôi dê, cừu ngoài các tỉnh Java từ 37 đến 50%. Năng suất sữa tăng từ 1 lít/con/ngày lên 2 lít/con/ngày. Quy mô chăn nuôi đạt hơn 10 con/hộ, tiến tới mục tiêu tăng thu nhập cho nông dân và tăng GDP của ngành.
Các giải pháp được lựa chọn để đạt mục tiêu là tăng cường đầu tư, hỗ trợ nông dân; tạo cơ hội xuất khẩu nhiều hơn, chú ý tới sản xuất sữa dê; xây dựng các nhóm nông dân để sản xuất sản phẩm dê, cừu và phát triển thị trường. Hình thành phát triển hiệp hội dê, cừu, các trung tâm như Trung tâm đào tạo thú y quốc gia ở Đông Java, Trung tâm chăn nuôi dê, bò quốc gia ở miền Nam Kalimantan, Trung tâm huấn luyện nông dân ở Bogor,... Tăng cường cơ hội hợp tác nhiều chiều trong và ngoài cộng đồng. Công tác giống cần được thúc đẩy, phát triển thụ tinh nhân tạo và chú trọng khâu xử lý môi trường, tận dụng chất thải dê, cừu như một nguồn lợi để tăng thu nhập cho nông dân.
Các mô hình kết hợp khép kín khá hiệu quả đang được người dân Inđônêxia đẩy mạnh là dê + ca cao hoặc dê + biogas + càphê. Vỏ quả cà phê, ca cao dùng làm thức ăn cho dê, phân dê lại bón cho càphê, ca cao.
|