 |
| Lán trọ học của chị em họ Chu, bản Ló Mé. |
KTNT - Vượt qua rào cản về giao thông đi lại khó khăn và cả những ngày tháng thiếu ăn kéo dài, học sinh ở các bản xa của xã Ka Lăng (Mường Tè - Lai Châu) vẫn băng rừng, vượt núi về trung tâm xã dựng lán học chữ. Và những người gieo chữ ở vùng đất này cũng phải vượt qua muôn vàn khó khăn để bám trường, bám lớp, mang cái chữ đến cho con em đồng bào các dân tộc nơi đây.
Kỳ I: Bản “nội trú” và hành trình “cõng” gạo đến trường
Tựa lưng vào triền núi, những chiếc lán chênh vênh bám trụ trong cái nắng, gió khắc nghiệt của vùng biên viễn xa xôi. Các đốm sáng phát ra từ những chiếc lán nhỏ bé, nơi các cô cậu học sinh trường THCS và Tiểu học Ka Lăng “định cư”, tương phản với bóng tối mịt mù của núi rừng...
Những chiếc lán hy vọng
Đường vào Ka Lăng mùa này không lầy lội, sạt lở, nhưng bụi khủng khiếp. Cả người lẫn xe phủ kín một lớp bụi dày. Ka Lăng tuy chưa hết đói nghèo, nhưng đã khang trang hơn nhiều so với vài năm trước. Tại trung tâm xã, trường, lớp học, trụ sở UBND xã... đã được kiên cố hoá. Duy chỉ có nơi ở của học sinh vẫn là những lán tạm. Nhưng chính những chiếc lán bé nhỏ đó là niềm hãnh diện đối với sự học ở Ka Lăng, là niềm tin, hy vọng của chính quyền, nhân dân gửi gắm vào lớp trẻ hôm nay.
Trời nhá nhem tối, chúng tôi cùng thầy giáo Nguyễn Văn Hào, Hiệu trưởng Trường THCS Ka Lăng men theo lối mòn đến thăm nơi ở của các em học sinh. Những chiếc lán tạm nằm san sát nhau tạo thành một dãy dài, vách được che chắn bằng những tấm bạt và nhánh cây rừng do chính các em học sinh dựng lên. Nơi đây có hơn 30 chiếc lán, là nơi trú nắng mưa của 162 em thuộc 11 bản trong xã. Mỗi lán thường có 3 - 4 học sinh trọ, có thể là anh em ruột thịt, cùng bản hay cùng lớp để thuận tiện cho việc học tập cũng như sinh hoạt.
Nằm ngay đầu dãy là lán của 3 chị em họ Chu, bản Ló Mé. Chúng tôi cố chùng gối hết mức mới vào được bên trong. Để dựng lán, đầu năm học, 3 chị em đã phải mất mấy ngày trời đi rừng chặt cây, mua bạt. Em Chu Chừ Phạ cho biết: “Bố mẹ em làm nương vất vả lắm nhưng vẫn cho 3 chị em ra trung tâm học. Mọi việc từ chi tiêu sinh hoạt đến học tập đều do chị gái em (Chu Nhừ Pư, lớp 9) đảm nhiệm”. Cách đó không xa, chiếc lán của anh em họ Khoàng cũng ẩm thấp và lạnh lẽo không kém. Bố mất sớm, mình mẹ cực nhọc với nương ngô, nương lúa. Trong lán, sách vở được các em sắp đặt khá ngăn nắp. Hỏi về chuyện ăn uống, các em chỉ cười. Nhìn những chiếc nồi, rổ, rá treo trên vách, túi muối i-ốt, ít măng chua... cũng đủ để chúng tôi cảm nhận về sinh hoạt hằng ngày của các em. Thầy Hào bảo, các em sống ở “bản nội trú” này đói nghèo như nhau hết. Nhưng, khó khăn chừng ấy cũng chẳng thấm vào đâu so với ước mơ giản dị được làm cô giáo về dạy chữ cho bọn trẻ trong bản của em Khoàng Khò Dứ.
"Cõng" gạo đến trường
Có đi mới biết, con đường về nhà “cứu viện” lương thực của các em học sinh mỗi ngày cuối tuần sao mà xa xôi đến thế. Xa vì núi, đèo chia cắt đã đành, ở đây còn có sự xa cách đến mịt mùng về cuộc sống. Thế nhưng, dường như nỗi khát khao được học đã giúp những người dân ở xã Ka Lăng cho con bám trường, bám lớp.
Vượt hơn 5km từ trung tâm xã, chúng tôi đến đầu bản Ka Lăng. Bà con cho biết, từ đây vào đến bản Lè Giàng cũng mất nửa ngày đi bộ. Chúng tôi gửi xe tại gia đình một thầy giáo, hành lý gọn nhẹ tìm về bản Ló Mé và bản Lè Giàng, dưới sự dẫn đường của thầy Trần Quang Thắng, Trường Tiểu học số 1 Ka Lăng. “Từ đây vào Ló Mé đường không xa, nhưng nhiều dốc, đi nhanh cũng mất ít nhất 3 giờ đồng hồ. Từ đó vào bản Lè Giàng mất hơn 1 giờ nữa”, thầy Thắng tươi cười, nửa đùa nửa thật hướng dẫn chúng tôi.
Đi chừng 30 phút, dù chưa hết đôi con dốc mà cái mệt bắt đầu ngấm dần vào cơ thể. Xuống một đoạn dốc, chúng tôi bắt gặp một tốp em nhỏ gùi lương thực đang cười đùa vui vẻ: “Chúng em về nhà lấy gạo, rau lên học... Hôm nay trời nắng nên xuất phát từ 7 giờ sáng nhưng cũng phải đầu giờ chiều mới đến được nơi ở”, Chù Lé Chừ, học sinh lớp 6 nhanh miệng. Thì ra hôm nay thứ 2, các em học buổi chiều nên giờ này mới ra trường. Trong 6 em thì Lừ Lý Pứ (10 tuổi) là cô bé nhỏ nhất, nhưng hành lý của em có vẻ nặng hơn. Pứ nói: “Đường xa lại đeo thế này nên chúng cháu không đi nhanh được. Lần này cũng may mới bán được đàn chó con nên mẹ cho 6 bò gạo, một bó cải, ít măng chua... khéo chia được gần 2 tuần chú ạ!”.
Cuối cùng chúng tôi cũng có mặt ở Lè Giàng khi trời đã mù mịt tối. Chúng tôi tìm đến gia đình em Sừng Go Mư, lớp 6 Trường THCS Ka Lăng. Nói chuyện với phụ huynh em Mư, gia đình có 4 người con đang đi học, lúc này chúng tôi mới vỡ lẽ chuyện cổ tích “cõng gạo đến trường” là có thật. Là chị cả trong gia đình, Sừng Gió Só chưa qua lớp 5 đã phải nghỉ học. Không muốn các em phải nghỉ học giữa chừng, Só đã chấp nhận gác ước mơ đèn sách và trở thành lao động chính trong gia đình.
Đêm xuống, cái lạnh tràn về nhanh hơn, phủ xuống Lè Giàng một mảng tối đen. Khó, khổ, nhưng dường như con đường đến trường không còn xa như trước. Gần hơn, vì những bước chân không biết mỏi mệt, gần hơn vì có những thầy cô giáo không quản khó khăn đã và đang vun đắp cho những ước mơ giản dị được làm chú bộ đội, làm cô giáo của các em trở thành sự thực.
Kỳ II: Gieo chữ ở Ải Bắc
Sỹ Đức |