Huyện Văn Chấn có một tộc người duy nhất sống trên thượng nguồn dòng Nậm Tộc, đó là người Khơ Mú. Họ sống tập trung ở xã Nghĩa Sơn, một trong số những dân tộc thiểu số nghèo nhất tỉnh Yên Bái. Chiều chiều những nữ “tiều phu” Khơ Mú rồng rắn gánh củi trên con đường núi đổ xuống cánh đồng Mường Lò…
Quá khứ đau buồn của một tộc người
Những người già nhất ở Nghĩa Sơn kể lại rằng: Cách đây khoảng hơn hai trăm năm, người Khơ Mú Nghĩa Sơn cư trú ở các khu vực hẻo lánh phía Nam Trung Quốc, sau những cuộc chiến tranh sắc tộc kéo dài liên miên, người Khơ Mú và một số dân tộc ít người khác dạt xuống vùng núi phía Nam. Tới đâu họ dựng nhà ở đấy, mái nhà của họ lợp bằng lá chuối, họ sống dựa vào nương rẫy, săn bắn và hái lượm. Khi lá chuối lợp nhà vàng ủng, họ lại bồng bế, gồng gánh nhau đi tìm vùng đất mới. Bởi thế, người Khơ Mú còn có tên gọi là Xá, hay “ Xá toong đương”, nghĩa là Xá lá vàng.
Họ tới Nghĩa Sơn qua đất bạn Lào, sang Sơn La, Lai Châu rồi men theo dãy Hoàng Liên vượt Khau Phạ đến Nghĩa Sơn. Do tập quán canh tác nên có câu “Xá ăn theo lửa, Thái ăn theo nước”. Nghĩa là: Cuộc sống của người Xá gắn liền với nương rẫy, còn cuộc sống người Thái gắn với ruộng nước. Bởi thế người Khơ Mú cứ chọn những khu rừng và sườn núi dốc để sinh sống.
Hơn hai mươi năm trước tôi được ông Vì Văn Thanh- người già nhất bản Nậm Tộc kể cho nghe những câu chuyện về quá khứ đau buồn của dân tộc mình: Các cụ xưa kể lại rằng người Khơ Mú dạt tới mảnh đất này khi đó chỉ có khoảng 300 người. Ngày ấy bọn lang tạo gọi họ là “Xá cẩu”- một dân tộc mạt hạng và bị khinh bỉ nhất và bị đối xử như súc vật. Quãng đời xưa tăm tối của họ là sống lang thang vất vưởng làm thuê nay cho dân tộc này mai lại cho dân tộc khác để kiếm miếng ăn. Bọn lang tạo khi nhà có người chết, chúng bắt người Khơ Mú canh ma Cà Rồng dưới quan tài bảy ngày bảy đêm, nước từ trong quan tài rỉ ra chảy xuống đầu, xuống lưng người ngồi canh phía dưới. Sau khi chôn họ còn phải thay nhau ngồi canh nấm mộ không cho ma Cà Rồng tới bới xác…Người Khơ Mú Nghĩa Sơn sẽ bị diệt vong nếu không có Cách mạng tháng Tám, ba trăm con người tụm lại dựng bản làng bên dòng suối Nậm Tộc- dòng suối nước mắt, dòng suối buồn tủi- xây dựng cuộc sống mới của mình. Quá khứ đau buồn ấy không một người dân Nghĩa Sơn nào là không biết.
Cuộc sống của người Khơ Mú Nghĩa Sơn hôm nay đã thay đổi nhiều lắm, những ngôi nhà sàn lợp cỏ tranh mòn vẹt nay đã thay bằng các tấm lợp, đường trong bản nhiều đoạn đã đổ bê tông. Xã có hệ thống trường học từ Mẫu giáo đến Trung học phổ thông cơ sở, tất cả đều được xây dựng khang trang, một số con em của họ đã tốt nghiệp đại học và trung học chuyên nghiệp. Tuy nhiên theo ông Vì Văn Vân- Phó Chủ tịch: Nghĩa Sơn còn nghèo lắm, xã có 312 hộ, 1.487 khẩu, người Khơ Mú chiếm 76%, cả xã chỉ có 40 ha ruộng nước, bình quân thu nhập đầu người chỉ 125.000đ/tháng. Do đó, tỷ lệ đói nghèo chiếm tới 75%, chủ yếu là dân tộc Khơ Mú.
Ông Vân thở dài: Vì không có ruộng, nên Nghĩa Sơn hiện có tới 200 người đi làm thuê khắp nơi, số người hàng ngày lên rừng lấy củi mang xuống chợ Mường Lò khoảng 40-50 người, chủ yếu là phụ nữ…Ông khoát tay chỉ ra con đường trước nhà: Buổi chiều từng đoàn, từng đoàn lũ lượt gánh củi qua đây nhiều lắm…
 |
|
Nữ “tiều phu” già bản Noong Khoang |
Những nữ “tiều phu” Khơ Mú
Người phụ nữ Khơ Mú Nghĩa Sơn lớn lên không người nào là không biết lên rừng lấy củi. Đó là một trong những việc chính mà họ được mẹ dạy từ khi biết cầm con dao lên rừng chặt măng, hái rau. Phụ nữ Khơ Mú không biết dệt vải, nên họ phải lên rừng kiếm củi bán lấy tiền mua vải cũng như mọi thứ chi dùng khác trong gia đình.
Chị Lường Thị Hiền một cựu “tiều phu” kể: Nhà em chỉ có hai nghìn mét vuông ruộng, ở trên cao thường xuyên thiếu nước, nên lúa chẳng tốt lắm, mỗi năm chỉ thu được khoảng 4-5 tạ thóc, bởi thế gia đình thiếu đói quanh năm. Khi là con gái em đã đi lấy củi, lấy chồng rồi vẫn đi lấy củi. Quanh năm lấy củi, chỉ trừ những ngày làm ruộng. Buổi sáng dậy từ khi còn tối đất, lên rừng Tộc Nọi trên đầu nguồn suối Nậm Tộc, kiếm được gánh củi, gánh về tới nhà là 12 giờ trưa. Sau khi nấu nướng, ăn cơm xong đã sang chiều, gánh củi xuống chợ Mường Lò đi bộ khoảng 2 tiếng mới tới nơi, hôm nào bán được sớm thì về sớm. Mỗi thồ củi chỉ bán được từ hai mươi đến hai lăm ngàn đồng thôi. Thế nhưng, nhiều hôm tối mới bán được, vào chợ mua vài cân gạo, mấy con cá khô…lại vội vã quay lên. Nhiều hôm muộn lắm mới được ăn cơm, hai đứa trẻ nhà em nhiều hôm vừa ăn vừa ngủ gà ngủ gật. Mới ra nhà ở riêng thiếu thốn đủ thứ, không lấy củi thì chẳng biết kiếm gì ra tiền để mua gạo, muối mắm, quần áo, sách vở, bút mực cho bọn trẻ đi học…
Chị Hiền thở dài: Nhà em bây giờ tạm đủ ăn, em nghỉ đi lấy củi ba năm nay, nhưng chồng em là Vì Văn Minh thì vẫn đi làm thuê bác ạ. Tôi hỏi: Ngày nào cũng đi lấy củi, mỗi ngày đi hai ba chục cây số không thấy mỏi chân à? Đi mãi rồi cũng quen, không đi thì lấy gì mà ăn?
|
"Người Khơ Mú Nghĩa Sơn chưa thể thoát khỏi cảnh đói nghèo đâu. Đất để khai hoang ruộng nước còn nhiều lắm, khả năng khai hoang được 120 ha, nhưng phải lấy nước từ đầu nguồn suối Tộc Nọi, xa 18-20 cây số đấy. Chỉ có Nhà nước hỗ trợ thì mới làm được, dân mình nghèo quá lấy đâu ra tiền?"
Ông Vì Văn Vân nói |
Bản Loọng nghèo nhất Nghĩa Sơn, cả bản có 49 hộ, nhưng không có ruộng, chỉ có một ít nương rẫy nên đàn ông thì đi làm thuê, phụ nữ ở nhà lấy củi và trông con cái. Bây giờ đang là mùa giáp hạt, lúa nương chưa chín, chẳng có việc gì nên vợ chồng chị Bắc cùng nhau gánh củi xuống chợ. Chị Bắc địu còn chồng chị thì gánh, họ ngồi nghỉ trên đầu cầu treo bản Que thị xã Nghĩa Lộ. Chị giở gói trầu ra ăn: Chẳng có việc làm gì đâu ớ, kiểm củi thôi. Thồ củi này chỉ bán được hai lăm ngàn, gánh của chồng mình được bốn chục hay năm chục à…
Tôi nhìn thồ củi của chị, biết đây là cây tươi chặt xuống rồi để khô, chứ không phải củi khô tự nhiên trên rừng. Nghĩa Sơn hiện chỉ còn 175 ha rừng phòng hộ và rừng tái sinh, mấy chục năm nay mỗi ngày có từ 40-60 người lên rừng lấy củi, thì còn đâu ra củi. Củi tươi thế này liệu có người mua không? Tôi hỏi. Chị Bắc nhổ bãi trầu xuống vệ cỏ: Bây giờ hết cây khô rồi, phải chặt cây tươi làm củi thôi, biết làm sao được?
Lúc này đã sang chiều, tôi nhìn con đường xuống núi, thấp thoáng từng đoàn nữ “tiều phu” rồng rắn nối đuôi nhau đi. Nắng chiều thu nhưng vẫn còn gắt lắm.
|