 |
| Hút vàng từ lòng suối. |
KTNT - Những tưởng đám cai vàng chỉ đục núi, khoét rừng, phá tan hoang những mảnh đất màu mỡ hay thổi bay nhiều quả đồi chỉ trong thời gian ngắn. Nhưng thực tế sự bành trướng của chúng không chỉ dừng lại ở nơi ấy, những con sông đầu nguồn cũng bị nạo càng lúc càng sâu, dòng chảy cũng vì thế mà thay đổi. Có lẽ, nhìn cảnh tượng đám người thi nhau dán mắt tìm vàng ở bất cứ nơi nào, cả những vị thần sông, thần núi cũng phải ôm mặt khóc than...
“Hùng cứ một phương”
Sau trận lũ quét bất ngờ năm 2006, khiến cho 7 phu vàng thiệt mạng, dân đào vàng ở Văn Bàn không khỏi hoang mang. Nhưng nỗi sợ ấy không chiến thắng nổi lòng tham, chúng vẫn tiếp tục đào khoét mà không cần quan tâm có phải vì sự xúc phạm trầm trọng đến đất, đến rừng khiến các vị thần linh nổi giận? Hay vì chúng khai thác theo kiểu được chăng hay chớ, nên làm biến đổi tự nhiên?
Đám đào vàng phân chia lãnh thổ rất cụ thể, kẻ trên bờ, người dưới nước, không ai xâm phạm đến ai. Bởi vậy, sự tranh chấp giữa các “tướng” trên bờ với “tướng” dưới sông gần như ít khi xảy ra. Nếu trên bờ, đám “phu” vàng được gọi là “lính”, kẻ cai thầu được gọi là “tướng” thì dưới lòng sông, “tướng” tức là “thuyền trưởng” và “lính” giống như “thuỷ thủ”. Chúng phân định như vậy nghe có vẻ oai phong, bởi thế, trong cuộc rượu, các “tướng” và “thuyền trưởng” hay khề khà bảo nhau “một bên là lục quân, một bên là lính thuỷ, cùng nhau xây dựng và giữ yên bờ cõi”.
Đi dọc con suối Ngòi Nhù ngoằn ngoèo, uốn khúc theo hình chữ chi, những gì được chứng kiến càng chứng minh thêm rằng, bất cứ nơi nào ở vùng Tây Bắc cũng có vàng. Hai bên dòng Ngòi Nhù là những nương ngô bắt đầu vào vụ nhưng xem ra ít được chăm sóc. Dưới lòng suối, cứ cách vài chục mét lại thấy từng ụ sỏi đá và cồn cát cao chất ngất. Dưới chân bờ suối, đất đá lở xuống làm dòng nước đục ngầu. Thay cho những lán trại tạm bợ ở các bãi vàng là những con tàu bằng sắt, bằng gỗ đóng đô trên dòng suối. Con tàu với những sợi dây chão chằng buộc, giống như con bạch tuộc khổng lồ, vươn cái vòi ghê gớm lan toả xung quanh, vắt vào bất cứ thứ gì ở hai bên bờ để níu giữ những cái rùng mình rúng động lòng suối và gào thét vang động núi rừng.
Giống như các “tướng” ở trên bờ, “thuyền trưởng” thường chỉ ngồi rung đùi, uống trà, nhìn ngắm cái ống to đùng, đen trùi trũi đang rung bần bật hút cát từ dưới lòng suối hoặc chăm chăm nhìn chiếc gầu sắt ở phía mui tàu đang sục sâu vào đáy suối, “bốc” lên từng tạ cát sỏi và nước chảy rào rào để đổ vào máng. Từ đó, một vòi xả khác với áp lực cực lớn xối qua để đẩy nước và những hạt vàng nhỏ li ti đọng xuống dưới đáy máng, còn cát sỏi thì bị đẩy trôi về phía sau, tạo thành từng ụ cao nằm rải rác dọc bờ suối.
“Kế sách” tận thu
Nếu vàng được khai thác trong đất được gọi là “nẹp” thì vàng móc từ lòng suối lên được gọi là đánh vàng sa khoáng. Nhờ dòng chảy, vàng cám chảy dọc theo lòng suối và đọng lại dưới lớp cát trắng trộn lẫn sỏi đá. Nắm được quy luật này, đám “lính thuỷ” vận dụng mọi phương thức để moi vàng khỏi nước. Có nhiều hình thức đãi vàng từ suối, nhưng phổ biến và hiệu quả nhất vẫn là sử dụng phương tiện máy móc thay sức người. Chủ yếu bọn đãi vàng dùng tàu vàng, máy xúc hoặc máy hút công suất lớn.
.jpg) |
|
Máng lọc đãi vàng. | Các tàu vàng chủ yếu xuất xứ từ Trung Quốc, trông giống như bao chiếc tàu thuỷ vận tải hạng nhẹ bình thường khác. Tuỳ theo công suất mà giá tàu có thể dao động từ 500 triệu đồng cho tới 1 tỷ đồng. Với mức giá như thế, cứ ngỡ con tàu ít nhất cũng phải tương đối tiện nghi, nhưng khi bước vào trong tàu mới thấy hết “nội tạng” của con “quái vật” bằng sắt ấy đơn giản và hiệu quả đến mức nào. Trên mui tàu, một dàn sắt có hệ thống gàu múc tự động theo kiểu dây chuyền giống như guồng máy xúc. Chúng cứ thế vận hành và từng chiếc gàu lần lượt moi cát, đá từ lòng sông, lòng suối lên, đổ vào hệ thống máng. Với một tàu vàng như thế (có thể kích cỡ gàu thay đổi to hoặc nhỏ), mỗi ngày ước chừng có hàng trăm khối đất đá bị móc lên, đổ vào máng lọc để đãi vàng và đùn lại sau lưng từng ụ cát. Mỗi khúc suối Ngòi Nhù bị tàu vàng khoét lên, ở đó sẽ có những hố lớn ngay trong lòng suối, tạo thành vực xoáy nguy hiểm khôn lường, khi mùa mưa lũ về, dòng chảy vì thế càng hung tợn.
Cách bắt sông suối “nhả” vàng đơn giản hơn là bằng máy xúc. Chỉ với vài ba cái máy xúc công suất trung bình, đám lính thuỷ có thể cày nát cả đoạn suối dài vài kilômét trong vòng chưa đầy một tuần. Khác với tàu vàng moi hoặc hút cát ở giữa lòng suối, máy xúc chỉ khai thác dọc hai bên bờ. Máy xúc tuy không cơ động bằng tàu vàng, nhưng bù lại, chi phí ban đầu ít hơn và hiệu quả cũng chẳng kém là bao.
Thủ công nhất trong các cách kiếm vàng của “lính thuỷ” là dùng máy bơm công suất cao. Dùng hệ thống này phải vận dụng rất nhiều sức người trong quá trình gạt bỏ sỏi đá, sau đó lại phải dùng máy bơm khác hút sa khoáng để phun trở lại máng lọc. Cách này hiệu quả không cao và không cơ động, bởi vậy chỉ dành cho những tay vốn ít.
Nếu “lính thủy” và “lính lục” ít khi va chạm quyền lợi với nhau thì nội bộ “quân chủng lính thủy” lại thường xuyên có “chiến tranh” và xâm phạm chủ quyền, dù đã có luật bất thành văn về “thuỷ giới” và khoảng cách giữa các tàu khai thác. Nhưng khi biết “bạn đồng ngũ” làm ăn khấm khá hơn bởi nơi “bạn” đang nạo trữ lượng sa khoáng nhiều hơn, thế là chỉ chờ đêm xuống, các đối thủ âm thầm tiến sát “thuỷ phận” và dùng các phương tiện như gàu, ống hút cỡ lớn sục sâu ngay chỗ “bạn” đang khai thác, thế là sa khoáng trôi hết về phía tàu mình. Mỗi lần bị “hớt tay trên” như vậy, các tàu vàng rất khó bảo vệ mình bởi thường bị “đánh hội đồng”, và chỉ có “luật rừng” theo kiểu được mạnh yếu thua. Cho nên, giữa thế lấy ít địch nhiều, thượng sách vẫn là rút lui chờ thời, cuộc chiến ngầm cứ âm thầm diễn ra hàng đêm, đối thủ - đồng minh cũng thay đổi liên tục. Các “thuyền trưởng” cũng bạc đầu lên kế hoạch tác chiến, vừa để chóng thu hồi vốn, vừa để ôm trọn mỏ vàng.
Ai đền mạng?
Một thực tế ai cũng phải thừa nhận, dù khai thác vàng bằng phương tiện nào, trên cạn hay dưới nước, nơi nào dân đào vàng tràn qua thì khi chúng bỏ đi chắc chắn chỉ còn lại mảnh đất hoang phế bị băm nát đến tận gan ruột. Riêng với suối Ngòi Nhù, người ta khó lòng nhìn thấy vết thương sâu thăm thẳm dưới đáy bởi dòng nước đã bị đục ngầu. Dòng chảy bị thay đổi, hai bên bờ thi nhau lở đất.
Nếu trước kia dòng Ngòi Nhù trong xanh, uốn mình chảy tuyệt đẹp, có thể nhìn thấy cát trắng xen lẫn sỏi đá dưới dòng, thì giờ đây cuồn cuộn đục ngầu, xoáy dữ dội và thỉnh thoảng lại “ngoạm” một mảng đất bên bờ. Chuyện đất canh tác hai bên bờ mất dần mất mòn còn chưa bàn tới, nhưng trẻ em chết đuối ở suối thì năm nào cũng có. Nguyên nhân cũng chẳng có gì lạ, bọn trẻ không cẩn thận (!?)sa chân vào “giếng đào” trong lòng suối. Oái oăm thays, cái “giếng đào” ấy chả ai ngờ được khi đang bình yên là thế, bỗng dưng một con nước lớn trào qua là trở nên xoáy quay cuồng, dữ dội, đòi mạng người như thể đòi lễ tế để xoa dịu sự xúc phạm mà dân đào vàng gây ra.
Mạng người đã mất, cá-tôm dưới suối cũng không còn nhiều như trước. Người dân không hiểu nguyên nhân chính vì cái gì, nhưng ai cũng khẳng định từ khi đám đào vàng xuất hiện, đào bới và đổ thứ dung dịch nào đó xuống dòng, cá-tôm ít dần, thậm chí có đợt cá chết nổi trắng cả mặt suối. Người dân ham của, thi nhau ra vớt. Chỉ có đám đào vàng không tham gia, bởi chúng biết, cá chết vì thuỷ ngân, xyanua đã pha vào nước suối nhiều không kể nổi.
Văn Bàn là huyện miền núi có diện tích đất trồng lúa cao nhất tỉnh Lào Cai, lượng phù sa bồi đắp chiếm tỉ lệ không nhỏ trong diện tích đất trồng trọt, thế nhưng, từ khi dân đào vàng đến, đất rừng không còn, đất phù sa cũng bị nhiễm độc trầm trọng. Nguồn nước chính là dòng Ngòi Nhù cũng bị băm nát thành từng khúc. Rồi đây, “đoàn quân vàng tặc” tiếp tục ra đi tìm vùng đất mới khi khai thác hết sa khoáng, để lại một khung cảnh hoang tàn. Mùa mưa tới, thuỷ thần lại trào lên cơn thịnh nộ đòi mạng người vô tội. Các cấp chính quyền ở Văn Bàn (Lào Cai) có biết chăng?!
Quang Hải |