Cơn sốt vàng sa khoáng đã tràn về đất Chu Minh (Ba Vì - Hà Tây) từ hơn chục năm nay. Nhờ vàng, nhiều người đã trở thành "đại gia", tiền bạc rủng rỉnh. Nhưng "trời chẳng cho không ai cái gì bao giờ", cùng với sự giàu có, bao tệ nạn xã hội đã tràn về vùng quê này, phá tan nhiều nếp nhà, thậm chí đẩy người lương thiện vào con đường tội lỗi.Giấc mộng tìm vàng
Nằm sát bên bờ sông Hồng, Chu Minh được coi là địa phương có diện tích đất nông nghiệp bình quân đầu người “nghèo” nhất nước. Toàn xã có 505ha đất nông nghiệp với 3.331 hộ (6.750 khẩu), tính ra mỗi người chỉ được 10 thước ruộng (1 thước = 24m2). Ruộng ít, họ chẳng thể “bấu víu” vào cây lúa nên từ những năm đầu thập niên 1990, người dân ở đây đã sống nhờ vào việc khai thác lâm sản dọc sông Hồng, sông Đà, sông Lô. Một thời Chu Minh được biết đến là bến đậu gỗ nổi tiếng. Từ khi Nhà nước có chủ trương đóng cửa rừng, người dân Chu Minh lại rơi vào bĩ cực. “Cái khó ló cái khôn”, khoảng cuối năm 1993, nghe phong thanh ở Trung Quốc có “công nghệ” khai thác vàng sa khoáng (vàng cám), thế là một người có “máu làm ăn” trong xã đã sang đó học nghề. Cách khai thác này khá đơn giản, chỉ cần sắm một chiếc thuyền chuyên dụng để lọc vàng, sau đó theo các dòng sông tìm bãi vàng sa khoáng. Thuyền được ghép lại từ 2 chiếc thuyền nhỏ, dài 15 - 20m, rộng 6m, ở giữa lắp máy hút siêu tốc để hút cát từ lòng sông lên, đồng thời có thể hút được những viên đá đường kính 20cm vào một chiếc máng rửa cát. Sau khi cho nước cùng cát chảy qua, vàng đọng lại dưới các rãnh nhỏ của máng. Lúc đầu nghề này chỉ có một vài hộ làm, sau thấy nhiều người “trúng quả” phất lên nhanh chóng, thế là trong xã rộ lên phong trào “nhà nhà tìm vàng, người người đãi vàng”. Người nào có nhiều vốn thì mua thuyền riêng, những nhà ít tiền hùn vốn lại với nhau mua chung thuyền, thậm chí có người còn vay ngân hàng để “đánh bạc” với vàng, ai không có máu “liều” thì đi làm thuê.
Cả làng, cả xã “sôi sùng sục” vì vàng. Địa điểm đầu tiên mà người Chu Minh khai thác là sông Thao. Lúc cao điểm, ở dọc đoạn sông này tập trung đến 50 chiếc thuyền đãi vàng. Khi nguồn vàng đã kiệt, các chủ thuyền vươn xa hơn, lên Lai Châu, Sơn La... Các điểm “giàu” vàng mà dân Chu Minh thường nhắc đến là Bắc Uôn, bãi Dầu Xá, Hát Do... Để được quyền khai thác vàng, các chủ thuyền đều phải “làm việc” với chính quyền địa phương. Trung bình mỗi thuyền thu 4 -5 chỉ /ngày, bữa nào “trúng quả” có thể được 3 - 4 cây. Anh Hạt, người có thâm niên trong nghề đi thuyền vàng, cho biết, bây giờ người Chu Minh còn đưa thuyền vào tận Thanh Hoá, Nghệ An và cả miền Nam tìm vàng. Nghe đâu ở sông Mã có bãi vàng trữ lượng rất lớn, các chủ thuyền đã vào thương lượng với chính quyền địa phương nhưng không được chấp nhận với lý do sợ bị động mạch. Khi chúng tôi ra bến phà Chu Quyến thì được chị chủ phà cho biết: “Mùa này thuyền vàng ít về, chỉ mấy hôm nữa đến mùa nước nổi lại tấp nập cả đoạn sông với 60 -70 thuyền tập trung. Ngày trước thuyền khai thác vàng thuộc dạng nhỏ, chỉ khai thác ở độ sâu 10m, bây giờ nguồn vàng cạn nhiều, họ bắt đầu chuyển sang đóng thuyền loại trung, khai thác ở độ sâu 15m. Loại thuyền này có thể khai thác tận thu ở các mỏ cũ”. Người chuyên cung ứng thuyền cho cả làng là ông Khoa. Chỉ tính riêng năm 2005, ông đã “xuất xưởng” 4 chiếc. Theo những người dân sống gần bến phà Chu Quyến, gần đây trên Sơn La mới phát hiện một mỏ vàng, có người chỉ đi mấy tháng đã ẵm về gần 200 triệu đồng.
Tàn lụi vì vàng
Anh Đỗ Duy Hải, người từng có thâm niên nhiều năm trong nghề khai thác vàng sa khoáng, nay đã chuyển sang kinh doanh vật liệu xây dựng, tâm sự: “Nếu nói làm vàng sa khoáng được không, phải khẳng định là được. Nếu biết tu chí, dân Chu Minh chẳng mấy chốc mà thành tỷ phú. Từ năm 1994 đến nay, lượng vàng mà người dân ở đây khai thác lên đến hàng tấn, nhưng cũng chỉ như muối bỏ biển. Phá lắm! Tôi đã từng làm vàng nên biết, với cách tiêu tiền của họ thì có đống vàng to như núi Ba Vì cũng hết. Cũng tại “ngắn” cái chữ thôi, thấy làm được tiền dễ là tiêu phung phí. Đúng là được vàng vẫn sợ vàng rơi!”. Được biết trong số những hộ vay tiền ngân hàng để làm thuyền đãi vàng chỉ có khoảng một nửa làm ăn hiệu quả, còn lại là thua lỗ. Số tiền mà người dân Chu Minh còn nợ ngân hàng tính đến thời điểm này lên đến hàng tỷ đồng. Bên cạnh đó, thuyền vàng chỉ có tuổi thọ 3- 4 năm, trong khi đó chi phí phát sinh rất lớn. Một chiếc thuyền đãi vàng trị giá khoảng 200 triệu đồng, tiền đầu tư thêm trong quá trình sử dụng có thể lên tới 500 - 600 triệu đồng, nếu không biết tính toán khấu hao thì chuyện thua lỗ là điều đương nhiên. Anh Hạt cho biết thêm: “Kể từ ngày có cái nghề đãi vàng, thanh niên trai tráng trong làng gần như không còn. Khoảng 15 -16 tuổi, có sức là bắt đầu xuống thuyền. Mặc dù có thêm thu nhập nhưng cái giá phải trả cho những ngày lênh đênh sông nước không hề nhỏ, sự bồng bột của tuổi trẻ đã khiến không ít thanh niên sa ngã trước sự cám dỗ của “nàng tiên nâu”; và việc học hành không còn được coi trọng. Toàn xã hiện nay có vài chục đối tượng trong danh sách nghi nghiện”. Đáng buồn nhất là trường hợp của anh Lý. Trước đây, anh cũng đi thuyền đãi vàng và dành đủ tiền mua gạch xây nhà, nhưng cũng chính từ những chuyến đi lênh đênh trên sông nước, anh đã dính vào ma tuý. Dần dần mọi thứ trong nhà cứ lần lượt ra đi. Đến giữa năm 2002, anh bị bắt vì tội trộm cắp tài sản với mức án 12 tháng tù giam để lại cho người vợ căn nhà trống tuềnh toàng cùng 3 đứa con nhỏ.
Đã có người giàu lên nhờ vàng nhưng cũng không ít kẻ khánh kiệt vì nó nhưng xem ra ước mơ làm giàu vẫn không lúc nào nguôi. Sông vẫn cuồn cuộn chảy như ngàn đời nay vẫn thế, nhưng ai biết được rằng, điều gì đang đợi họ trong cuộc sống ngày mai.
Nguyễn Hiếu |