 |
| Việc chọn đúng ngành, trường phù hợp với năng lực tăng khả trúng tuyển của các thí sinh. |
KTNT - Kỳ thi tuyển sinh đại học, cao đẳng năm 2010 đang đến rất gần, song nhiều học sinh vẫn hết sức băn khoăn không biết chọn ngành hoặc trường nào cho phù hợp với khả năng của mình.
Băn khăn trước ngã ba đường
Một số học sinh chọn ngành theo xu hướng thời thượng, trong khi số khác thường cân nhắc trên cơ sở điểm chuẩn của các trường từ năm trước. Điều đó dẫn tới nhiều dự đoán thiếu chính xác. Ví dụ, nhiều trường điểm chuẩn năm trước không quá cao, nhưng do tâm lý thí sinh tin tưởng vào khả năng cạnh tranh thấp, nên đổ dồn về dự thi, khiến tỉ lệ chọi tăng vọt, điểm chuẩn theo đó cũng cao hơn. Khi mùa tuyển sinh đại học đang đến gần, các bạn học sinh nên chọn nhóm ngành, trường sao cho phù hợp với mong muốn và khả năng của mình.
Các chuyên gia tư vấn giáo dục thường chỉ đưa ra những lời khuyên chung chung, ví như thí sinh nếu chọn ngành thuộc lĩnh vực đào tạo rộng, sát với nhu cầu xã hội thì sẽ phải đối mặt với tỉ lệ cạnh tranh khốc liệt, bù lại, khi ra trường có cơ hội tìm kiếm việc làm dễ dàng hơn. Ngược lại, thí sinh chọn những ngành đào tạo thu hẹp, nhu cầu lao động không phổ biến (đặc biệt ở khối xã hội), tỉ lệ chọi thấp hơn nhưng khi ra trường sẽ khá vất vả để tìm một cơ hội việc làm đúng với chuyên môn...
Trên thực tế, môi trường tuyển sinh đại học tại Việt Nam không quá khắc nghiệt, thí sinh nào biết chọn ngành phù hợp với mong muốn, khả năng thì cơ hội trúng tuyển sẽ cao hơn. Bên cạnh đó, cần chú ý tới biên độ ứng dụng của nhóm ngành mình yêu thích, như vậy việc chọn trường sẽ không phải là vấn đề quá lớn.
Ngành "hot", nhu cầu tuyển dụng cao, vì sao thiếu việc làm?
Dựa trên một số kết quả điều tra cho thấy, ngành đào tạo dẫn đầu vẫn chưa thật sự thống nhất, nhưng nhóm ngành “hot” (nóng - tiếng Anh), thu hút lượng lớn thí sinh đăng ký vẫn là công nghệ thông tin, công nghệ sinh học, điện điện tử - viễn thông; ở khối xã hội là các nhóm ngành luật, báo chí... Trong khoảng 3 kỳ tuyển sinh gần đây, những ngành này thường có điểm chuẩn khá cao, trung bình từ 21 điểm trở lên và không lấy tới nguyện vọng 2.
Theo TS.Trần Quang Anh, Trưởng khoa Công nghệ thông tin Đại học Hà Nội, ngành công nghệ thông tin đang có lượng thí sinh dự thi khá đông. Trong một cuộc hội thảo về nhu cầu nhân lực của ngành này, các chuyên gia đều thống nhất: trong khoảng 10 năm tới, nhu cầu nhân lực công nghệ thông tin tại Việt Nam vẫn thiếu trầm trọng và đó chính là lý do để ngành tiếp tục đứng trong top những ngành “hot” nhất trong lựa chọn của thí sinh. Mặc dù vậy, trên thực tế, nhiều cử nhân, kỹ sư công nghệ thông tin vẫn không thể tìm kiếm được một việc làm ưng ý, hoặc với mức lương chưa đảm bảo.
Lý giải cho vấn đề này, TS. Anh cho rằng, giống như thực tế của nhiều ngành đào tạo khác, nhu cầu của thị trường tuyển dụng ngày càng khắt khe, nhất là khi các công ty nước ngoài đầu tư vào Việt Nam thì ngoài yêu cầu về chuyên môn, họ đòi hỏi trình độ ngoại ngữ của cử nhân rất cao. Bởi theo cách làm việc hiện đại, dù bạn đã có trình độ đại học vẫn cần tiếp tục tự học hỏi, trau dồi các kiến thức mới thông qua tài liệu tiếng nước ngoài, internet... Trong khi đó, phần lớn sinh viên Việt Nam nói chung khi tốt nghiệp thường không đáp ứng được đòi hỏi tối thiểu về ngoại ngữ, dẫn tới việc thường chỉ được thuê như những kỹ sư gia công, nên mức lương thấp hoặc không được đánh giá cao ngay từ đầu.
Tỉ lệ sinh viên tốt nghiệp năm 2010 của Khoa Công nghệ thông tin của Đại học Hà Nội có việc làm đạt tới 90% (theo kết quả điều tra nội bộ) là do họ có ưu thế tốt hơn nhờ trình độ ngoại ngữ. Cho dù tuyển sinh đầu vào bằng cả 2 khối A và D, nhưng các tân sinh viên bắt buộc học tiếng Anh 1 năm đầu tiên để đáp ứng cho 3 năm còn lại học tập theo giáo trình, bài giảng hoàn toàn bằng tiếng Anh. Thậm chí, mọi giao tiếp trên lớp và giờ ngoại khóa cũng sử dụng tiếng Anh. Do vậy, khi các sinh viên năm cuối đi thực tập tại các doanh nghiệp, đặc biệt là các công ty nước ngoài, các bạn có ưu thế vượt trội hơn các sinh viên cùng ngành khác.
Theo lời khuyên của các chuyên gia tư vấn giáo dục, thí sinh không nên quá tập trung vào ngành nào đang hấp dẫn, hoặc đầu ra thuận lợi mà nên quan tâm tới sở thích sao cho phù hợp với khả năng của bản thân, bởi dù đầu ra có khó khăn tới đâu, nếu đã có đam mê và kết quả học tập tốt, vẫn có cơ hội cao để tìm được một công việc phù hợp. Ngược lại, cho dù có tốt nghiệp ngành “hot”, thị trường có nhu cầu lớn, nhưng kết quả không nổi bật cũng rất khó được hưởng chế độ đãi ngộ cao.
Đức Thành |