 |
| Các nước nghèo băn khoăn không biết ích lợi của tự do mậu dịch là ở chỗ nào. |
Bài viết dưới đây của một nhóm các nhà lãnh đạo một số tổ chức thuộc Liên Hiệp Quốc, được UNDP tại VN dành riêng cho TT Cuối Tuần.Trước khi thị trường VN mở tung bởi những cam kết gia nhập WTO, nhà nông, nhà sản xuất tại VN rất cần thấu hiểu cuộc chơi không công bằng của toàn cầu hóa, bởi rất có thể kịch bản tương tự đối với VN có thể lặp lại như những ví dụ được nêu trong bài.
Đang diễn ra một tình trạng “không công bằng” khiến các nước nghèo băn khoăn không biết ích lợi của tự do mậu dịch là ở chỗ nào.
Nhu cầu cà phê, chè, côca, bông và đường - những sản phẩm mà nhiều nước nghèo có thể cung cấp cho thế giới - đã tăng lên. Giá cả ở các siêu thị cũng đã tăng lên. Song, phần chi phí trả cho những nông dân trồng các loại cây nông nghiệp cơ bản này lại giảm xuống. Ví dụ, những người trồng giống cà phê Robusta ở đất nước Bờ Biển Ngà nhận được 17,5% của mỗi đồng đôla mà người tiêu dùng bỏ ra để mua sản phẩm của họ vào những năm 1980-1988, và con số này đã giảm xuống chỉ còn 7,2% vào những năm 1999-2003. Đối với những người trồng cà phê ở Indonesia, mức giảm là từ 19,2% xuống còn 7%.
Những nước nghèo thường được giáo huấn về tầm quan trọng của thị trường mở cửa. Song, quá trình này không mang lại kết quả như quảng cáo. Đối với thành phần tiểu nông ở nông thôn tại các nước đang phát triển, toàn cầu hóa không phải đẩy mọi con thuyền đi theo dòng chảy của nó.
Hàng hóa - không chỉ là những thứ hàng đen, dính, lỏng - có ý nghĩa cực kỳ quan trọng đối với các nền kinh tế ở châu Phi, châu Á, châu Mỹ Latin và vùng Caribê. Hơn 2 tỉ người dân kiếm sống từ nông sản.
Gần đây, khi Trung Quốc đã trở thành một siêu cường quốc về kinh tế và các nước mới nổi lên như Ấn Độ, Brazil và Nga đã đạt được những kết quả phát triển đầy ấn tượng, thì nhu cầu đối với các sản phẩm xuất khẩu của nông dân ở các nước đang phát triển đã tăng vọt, và khả năng sản xuất của họ cũng tăng lên để đáp ứng nhu cầu: khối lượng gạo mậu dịch đã tăng 67,5% trong giai đoạn 1993-1995 và 2003-2005, bông tăng 48,8%, rau tươi và rau bảo quản lạnh tăng 69,7%, hoa tươi tăng 72,9%.
Lợi nhuận thu được từ các mặt hàng xuất khẩu này có thể tạo điều kiện cho các nước kém phát triển và các nước đang phát triển khác giúp người dân của họ thoát khỏi nghèo đói, cũng như đa dạng hóa nền kinh tế, nhưng hầu hết các khoản lợi nhuận này hình như biến đi đâu đó. Sự phức tạp của “chuỗi giá trị” từ nơi sản xuất đến các siêu thị không mang lại lợi ích cho những hộ nông dân có thu nhập thấp và ít ruộng đất. Quá trình đó có thể diễn ra trên phạm vi toàn cầu, song lợi ích của nó không đến tay những người nghèo nhất. Ở đầu cao của chuỗi giá trị này, nơi mà thực phẩm và các sản phẩm dệt may tự nhiên thuộc “đẳng cấp khác” - tức là chúng được tạo ra sao cho có sức lôi cuốn, được bao gói hấp dẫn, có thương hiệu và được quảng bá - thì cũng là nơi tập trung hầu hết tiền bạc của xã hội.
Đã đến lúc phải hành động vì sự bùng nổ về hàng hóa không phải là vĩnh viễn. Việc đa dạng hóa kinh tế - thậm chí chỉ trong phạm vi ngành nông nghiệp - cần được hoàn thành, trong khi quá trình này đang diễn ra với cùng lý do là một chiếc bàn với cả bốn chân thì có ít nguy cơ bị đổ do chấn động hơn là chiếc bàn chỉ có hai hay ba chân. Khoảng 85 nước đang phát triển giờ đây có hơn một nửa kim ngạch xuất khẩu là từ hàng hóa. Trong đó, 70 nước có tối đa ba mặt hàng chiếm tới hơn một nửa tổng kim ngạch xuất khẩu của họ.
Vào những năm 1990, trong khi lời giáo huấn về tài chính quốc tế cho rằng chính phủ các nước không nên can thiệp mà để thị trường tự do hoạt động, thì chính phủ của nhiều nước đang phát triển lại được yêu cầu dừng việc đàm phán về giá cả, cũng như việc tổ chức vận chuyển và bao tiêu sản phẩm cho hàng nghìn tiểu nông. Một số chính phủ, đặc biệt ở châu Phi và châu Mỹ Latin, đã dừng làm những việc đó, song không thấy xuất hiện các cơ sở tư nhân cung cấp các dịch vụ này, và hàng nghìn người sản xuất nhỏ - vốn rất ít được tiếp cận với thông tin về thị trường, phương tiện vận chuyển và tín dụng - buộc phải tự bảo vệ mình trước những khách hàng quốc tế rất lớn và rất tinh vi như các tập đoàn siêu thị. Và những nông dân này vẫn phải tiếp tục cạnh tranh với nông dân ở các nước phát triển, vốn nhận được sự trợ cấp rất hào phóng cũng như thị trường trong nước của họ được bảo hộ bởi hàng rào thuế quan cao.
Việc đầu tư của cả nhà nước và cá nhân đều có ý nghĩa hết sức quan trọng: ví dụ, nếu có nhà kho để lưu giữ hàng hóa cho các tập thể nông dân thì tình hình sẽ được cải thiện rất nhiều. Trong khi giá cả thị trường còn thấp, họ có thể cất trữ các sản phẩm cà phê hay ca cao của mình trong kho và bán ra khi giá lên. Hiện nay, họ thường phải bán sản phẩm sau khi thu hoạch. Có thể nâng giá trị của sản phẩm thông qua việc xay, phân loại, chuẩn hóa và bao gói tại chỗ mà không phải đi xa nếu có thể xây dựng, lắp đặt các trang thiết bị và có kiến thức chuyên môn cần thiết.
Có một điều gì đó “bất ổn” về tình hình chung hiện nay. Vấn đề đó phải được giải quyết. Nếu không, kịch bản đang được hình thành của các nhà nghiệp đoàn nông dân - thương mại ở Zambia có thể trở thành hiện thực, đó là: “Nếu không trả giá thỏa đáng cho các mặt hàng xuất khẩu của chúng tôi thì chúng tôi sẽ tự xuất khẩu”.
|
“Năng lực xuất khẩu mạnh mẽ của VN được đóng góp phần lớn bởi các hàng hóa dựa trên nguồn tài nguyên tự nhiên, ví dụ như dầu thô và cao su. Trong khi xuất khẩu đóng một vai trò là nguồn ngoại tệ quan trọng cho đất nước, điều này khiến VN rất dễ nhạy cảm bởi sự biến động của giá cả toàn cầu: được lợi khi giá lên và thiệt hại khi giá xuống. Chính phủ và các nhà sản xuất ở VN cần làm nhiều hơn để tăng thêm phần giá trị gia tăng vào các sản phẩm, nhằm giảm sự tổn thương khi giá cả của thế giới thay đổi”.
Scott Cheshier (chuyên gia kinh tế của UNDP tại VN) |
CẨM HÀ - TTO |