Một số nội dung cơ bản về Dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thuế TNDN

    3/27/2013 12:20:00 PM

    Luật thuế TNDN năm 2008 (có liệu lực từ 01/01/2009) qua 4 năm thực hiện đã cơ bản đạt được mục tiêu đề ra khi ban hành Luật.

    Bên cạnh các kết quả đã đạt được qua 4 năm thực hiện, tuy nhiên, do sự biến động nhanh của nền kinh tế nên một số quy định trong Luật thuế TNDN hiện hành đã bộc lộ một số tồn tại, hạn chế không theo kịp sự vận động của thực tiễn (như không có ưu đãi thuế đối với đầu tư mở rộng nên chưa tạo động lực khuyến khích các doanh nghiệp đang hoạt động bỏ thêm vốn đầu tư, một số khoản thu nhập cần được miễn thuế để phù hợp với thực tiễn và thông lệ quốc tế; một số quy định về các khoản chi phí được trừ và không được trừ chưa thật sự phù hợp với tình hình phát triển kinh tế trong thời gian tới, chưa góp phần vào việc kiểm soát thu nhập, chi phí của doanh nghiệp; ...). Để khắc phục những bất cập như nêu trên, đảm bảo đơn giản hoá chính sách, đáp ứng yêu cầu về cải cách thủ tục hành chính, hiện đại hoá công tác quản lý thuế và thực hiện giảm dần mức động viên theo Chiến lược cải cách thuế giai đoạn 2011 – 2020 để đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội của đất nước trong giai đoạn tới thì cần thiết phải sửa đổi, bổ sung Luật thuế TNDN. Việc sửa đổi, bổ sung Luật thuế TNDN lần này cũng đồng bộ với sửa đổi, bổ sung Luật thuế GTGT.

    Quan điểm, mục tiêu sửa đổi, bổ sung Luật này là nhằm:

    (1) Kiên trì mục tiêu dài hạn đã đặt ra của Luật thuế TNDN: (i) tiếp tục tạo môi trường đầu tư và kinh doanh thuận lợi, bảo đảm công bằng, bình đẳng trong cạnh tranh; giảm mức thuế suất chung để DN có thêm nguồn lực tài chính, tăng tích luỹ, tích tụ đổi mới thiết bị, đẩy mạnh đầu tư phát triển, nâng cao năng lực cạnh tranh; (ii) tiếp tục cải cách ưu đãi thuế nhằm tạo sự chuyển biến trong phân bổ nguồn lực, khuyến khích và thu hút đầu tư có chọn lọc để phát triển các vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn và một số ít ngành, lĩnh vực quan trọng theo chính sách phát triển của Nhà nước;

    (2) Sửa đổi, bổ sung những vấn đề bất cập so với thực tế, đảm bảo tính thống nhất của hệ thống pháp luật và có tính ổn định; việc sửa đổi sẽ tác động giảm thu ngân sách nhà nước trong vài năm đầu nhưng phải đảm bảo ổn định và tăng trưởng nguồn thu ngân sách nhà nước trong trung và dài hạn;

    (3) Đảm bảo đơn giản, minh bạch, dễ hiểu, dễ thực hiện, tạo thuận lợi cho người nộp thuế và góp phần thúc đẩy cải cách hành chính và hiện đại hoá công tác quản lý thuế;

    (4) Góp phần nâng cao khả năng cạnh tranh so với các nước trong khu vực, các nước có điều kiện tương đồng với nước ta, phù hợp với xu thế cải cách thuế và thông lệ quốc tế.

    Về các nội dung sửa đổi, bổ sung Luật

    Dự án Luật dự kiến sửa đổi, bổ sung 10/20 điều của Luật hiện hành, gồm 8 nhóm vấn đề với 18 nội dung, trong đó, nội dung sửa đổi, bổ sung chủ yếu là về thuế suất, về ưu đãi thuế, về thu nhập miễn thuế và thu nhập chịu thuế, về các khoản chi được trừ, không được trừ,... Các điều khoản sửa đổi, bổ sung đều giảm nghĩa vụ, tạo thuận lợi hơn cho doanh nghiệp, cụ thể như sau:

    1. Về thu nhập được miễn thuế:

    Để phù hợp với thực tiễn, đồng bộ với quy định của các pháp luật liên quan, khuyến khích doanh nghiệp bỏ vốn vào lĩnh vực cần khuyến khích đầu tư, dự thảo Luật bổ sung vào diện thu nhập miễn thuế đối với một số khoản thu nhập sau:

    (i) Thu nhập từ chuyển nhượng chứng chỉ giảm phát thải (CERs) của DN được cấp chứng chỉ;

    Việc bổ sung quy định này nhằm đáp ứng yêu cầu thực tiễn, phù hợp xu thế tiến bộ của thế giới và khuyến khích doanh nghiệp bỏ vốn đầu tư sử dụng công nghệ cao, công nghệ sản xuất sạch, công nghệ mới thân thiện với môi trường (dự án CDM).

    (ii) Thu nhập từ hoạt động tín dụng đầu tư phát triển, tín dụng xuất khẩu của nhà nước của Ngân hàng phát triển Việt Nam, thu nhập từ hoạt động tín dụng cho người nghèo và các đối tượng chính sách khác của ngân hàng chính sách xã hội;

    Việc bổ sung quy định này là để đảm bảo chính sách minh bạch, rõ ràng, đảm bảo tính thống nhất, đồng bộ của hệ thống pháp luật và cơ sở pháp lý trong thực hiện.

    (iii) Phần thu nhập không chia dùng để đầu tư phát triển cơ sở giáo dục đại học tư thục theo quy định của Luật Giáo dục đại học. Quy định này nhằm đảm bảo minh bạch chính sách.

    2. Về khoản chi được trừ và không được trừ khi xác định thu nhập chịu thuế TNDN

    Để phù hợp với thực tiễn và thông lệ quốc tế, tại khoản 5 Điều 1 dự thảo Luật có quy định: (i) nới rộng tỷ lệ khống chế chi phí quảng cáo, khuyến mại từ 10% lên 15%, đồng thời loại bỏ một số khoản chi không mang tính chất quảng cáo, khuyến mại như chiết khấu thanh toán, chi báo biếu, báo tặng của cơ quan báo chí ra khỏi diện chi phí khống chế để phản ánh đúng bản chất của khoản chi; (ii) bổ sung vào diện chi phí được trừ khi xác định thu nhập chịu thuế đối với khoản tài trợ theo chương trình của Nhà nước đối với các địa phương thuộc địa bàn có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn; (iii) bổ sung quy định về khống chế chi phí lãi tiền vay không được trừ vào chi phí đối với khoản vay vượt quá nhiều lần vốn chủ sở hữu (nếu khoản vay vượt quá vốn chủ sở hữu từ tỷ lệ 4:1 đối với DN sản xuất kinh doanh, tỷ lệ 10:1 đối với các tổ chức tín dụng, ngân hàng thì không được trừ vào chi phí) và lộ trình thực hiện từ năm 2016; (iv) bổ sung quy định cho phép doanh nghiệp được tính vào chi phí được trừ đối với khoản chi đóng góp Quỹ hưu trí tự nguyện hoặc quỹ mang tính an sinh xã hội cho người lao động; (v) để đơn giản hóa thủ tục hành chính, tạo thuận lợi và chủ động cho doanh nghiệp, dự thảo Luật đã bỏ quy định doanh nghiệp phải thông báo cho cơ quan thuế về các định mức tiêu hao nguyên vật liệu, nhiên liệu, năng lượng do doanh nghiệp tự xây dựng để xác định chi phí hợp lý.

    Ngoài ra, để góp phần quản lý, kiểm soát thu nhập của tổ chức, nâng cao tính minh bạch, rõ ràng, từ đó đảm bảo sự công bằng trong thực hiện nghĩa vụ thuế giữa các doanh nghiệp, dự thảo Luật bổ sung quy định về điều kiện khoản chi được trừ phải có chứng từ thanh toán không dùng tiền mặt đối với những hoá đơn mua hàng hoá, dịch vụ từng lần có giá trị từ 20 triệu đồng trở lên và có quy định loại trừ các trường hợp không bắt buộc phải có chứng từ thanh toán không dùng tiền mặt để đảm bảo tính khả thi, phù hợp với thực tiễn do hạ tầng công nghệ và mạng lưới ngân hàng còn chưa thật đồng đều giữa các vùng miền.

    3. Về thuế suất

    Dự án Luật điều chỉnh giảm mức thuế suất phổ thông từ 25% xuống 23%, đồng thời điều chỉnh giảm mức thuế suất từ 25% xuống còn 20% áp dụng đối với doanh nghiệp có quy mô nhỏ và vừa (sử dụng dưới 200 lao động và có tổng doanh thu năm không quá 20 tỷ đồng).

    Việc đề xuất giảm thuế suất như nêu trên căn cứ cơ sở thực tiễn, phù hợp với xu thế của nhiều nước trên thế giới và cũng là một bước thực hiện Chiến lược cải cách thuế đến năm 2020.

    Đối với doanh nghiệp có quy mô nhỏ và vừa là nhóm đối tượng chiếm số lượng lớn, dễ chịu tác động, ảnh hưởng trước bối cảnh khó khăn của nền kinh tế cần có biện pháp tháo gỡ kịp thời, bên cạnh đó cũng là loại hình doanh nghiệp thu hút phần lớn lực lượng lao động, tạo việc làm cho xã hội cũng như là cơ sở hình thành, phát triển thành doanh nghiệp lớn trong tương lai. Đây là cơ sở để xem xét việc điều chỉnh thuế suất xuống mức 20% đối với nhóm đối tượng này.

    Kết quả 4 năm thực hiện Luật và so sánh với các nước cho thấy mức thuế suất phổ thông 25% là phù hợp với thực tế thời gian qua và là mức trung bình so với các nước trong khu vực (bằng với Trung Quốc). Điều này thể hiện ở khía cạnh số lượng doanh nghiệp đã đăng ký thuế và đang hoạt động hàng năm đều năm sau tăng so với năm trước và vốn đầu tư trực tiếp từ nước ngoài vào Việt Nam tăng trong thời gian qua.

    Nghiên cứu kinh nghiệm các nước cho thấy gần đây các nước có xu thế cải cách thuế theo hướng giảm dần mức thuế suất phổ thông để tạo sự hấp dẫn, tăng tính cạnh tranh môi trường đầu tư trong thu hút đầu tư, ví dụ Malaysia, từ năm 2005 đến 2009 đã 3 lần điều chỉnh giảm mức thuế suất phổ thông, mỗi lần giảm 1% (từ 28% năm 2005 xuống 25% năm 2009). Thái Lan qua các lần điều chỉnh thuế suất phổ thông cũng đã giảm từ mức 30% năm 2005 xuống còn 23% năm 2012.

    So với các nước trong khu vực và thế giới thì mức thuế suất phổ thông giảm xuống còn 23% (riêng doanh nghiệp có quy mô nhỏ và vừa chỉ còn 20%) là mức tương đối thấp, đảm bảo tính cạnh tranh, hấp dẫn thu hút đầu tư.

    4. Mở rộng ưu đãi thuế

    Bên cạnh việc điều chỉnh giảm mức thuế suất phổ thông, trên cơ sở kết quả tổng kết đánh giá 04 năm thực hiện Luật và rà soát các quy định về ưu đãi thuế TNDN tại các văn bản pháp luật chuyên ngành, dự thảo Luật đã bổ sung thêm lĩnh vực, ngành nghề, địa bàn ưu đãi (ngoài các lĩnh vực, địa bàn ưu đãi theo Luật thuế TNDN hiện hành), cụ thể:

    a) Bổ sung vào diện áp dụng thuế suất 10% trong 15 năm, miễn thuế trong 4 năm và giảm 50% số thuế phải nộp trong 9 năm tiếp theo đối với:

    - Doanh nghiệp thành lập mới từ dự án đầu tư sản xuất vật liệu mới, năng lượng mới không sử dụng nhiên liệu hóa thạch; phát triển công nghệ sinh học; bảo vệ môi trường;

    - Doanh nghiệp công nghệ cao, doanh nghiệp nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao.

    - Doanh nghiệp thành lập mới từ dự án đầu tư hoặc doanh nghiệp có dự án đầu tư mới có quy mô đầu tư và phạm vi tác động rộng lớn đến kinh tế - xã hội đáp ứng điều kiện theo quy định của Chính phủ.

    b) Bổ sung vào diện áp dụng thuế suất 10% đối với:

    - Thu nhập từ thực hiện dự án nghiên cứu phát triển; dự án ứng dụng công nghệ cao; dự án ươm tạo công nghệ cao, ươm tạo doanh nghiệp công nghệ cao.

    - Thu nhập từ thực hiện dự án đầu tư - kinh doanh nhà ở xã hội để bán, cho thuê, cho thuê mua;

    - Thu nhập từ hoạt động báo in (kể cả quảng cáo trên báo) của cơ quan báo chí;

    - Thu nhập từ hoạt động xuất bản của cơ quan xuất bản theo quy định của Luật xuất bản;

    - Thu nhập của doanh nghiệp từ thực hiện các dự án: trồng, chăm sóc rừng; nuôi trồng nông, lâm, thủy sản trên đất hoang hoá hoặc vùng nước chưa được khai thác; sản xuất giống cây trồng, giống vật nuôi; sản xuất, khai thác và tinh chế muối; đánh bắt hải sản ở vùng biển xa bờ.

    c) Bổ sung vào diện áp dụng thuế suất 20% đối với:

    - Tổ chức tài chính vi mô;

    - Thu nhập của doanh nghiệp từ thực hiện các dự án: trồng cây dược liệu; sản xuất, tinh chế thức ăn gia súc, gia cầm, thuỷ sản; dịch vụ kỹ thuật trồng cây công nghiệp và cây lâm nghiệp, bảo vệ cây trồng và vật nuôi, chăn nuôi, nuôi trồng thuỷ sản; đầu tư bảo quản nông sản sau thu hoạch, bảo quản nông, thủy sản và thực phẩm; phát triển ngành nghề truyền thống;

    d) Bổ sung và địa bàn ưu đãi thuế (miễn 2, giảm 4) đối với Khu công nghiệp, trừ KCN thuộc các thành phố trực thuộc Trung ương.

    Việc bổ sung quy định ưu đãi thuế đối với các lĩnh vực như nêu trên sẽ đảm bảo sự thống nhất, đồng bộ của hệ thống pháp luật; việc bổ sung ưu đãi thuế đối với lĩnh vực nông nghiệp sẽ khuyến khích doanh nghiệp đầu tư, phát triển các lĩnh vực này, tạo công ăn việc làm, nâng cao thu nhập cho người dân, góp phần phát triển kinh tế, thu hẹp khoảng cách giàu nghèo giữa thành thị với nông thôn, miền núi; việc bổ sung vào diện ưu đãi thuế ở mức cao đối với các lĩnh vực bảo vệ môi trường, sản xuất vật liệu mới, năng lượng mới không sử dụng nhiên liệu hóa thạch, phát triển công nghệ sinh học, sản xuất năng lượng tái tạo, năng lượng sạch, sản xuất năng lượng từ việc tiêu hủy chất thải, tiết kiệm năng lượng,... để hướng tới phát triển kinh tế bền vững, giảm thiểu ô nhiễm môi trường,...

    5. Về một số nội dung sửa đổi, bổ sung khác

    Dự thảo Luật đã sửa đổi, bổ sung khái niệm "cơ sở thường trú" để phù hợp với các cam kết quốc tế, không làm ảnh hưởng đến quyền đánh thuế của Việt Nam; bổ sung vào thu nhập chịu thuế một số khoản thu nhập mới phát sinh cho phù hợp với thực tiễn; bổ sung quy định về xác định thu nhập tính thuế và chuyển lỗ đối với thu nhập từ chuyển nhượng bất động sản và một số khoản thu nhập có tính chất tương tự (như: thu nhập từ chuyển nhượng dự án; chuyển nhượng quyền thăm dò, khai thác, chế biến khoáng sản; chuyển nhượng quyền góp vốn, quyền tham gia dự án), theo đó quy định thu nhập từ các hoạt động này doanh nghiệp phải xác định riêng để kê khai nộp thuế, được bù trừ lãi, lỗ của các hoạt động này với nhau; trường hợp sau khi bù trừ mà vẫn còn lỗ thì số lỗ này doanh nghiệp được bù trừ với lãi của hoạt động sản xuất kinh doanh trong kỳ tính thuế. Quy định này vừa phản ánh đúng bản chất kinh tế của các khoản thu và hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, đồng thời cũng cho phép khắc phục được bất cập khi thị trường bất động sản đi xuống.

    PV.

Ý kiến bạn đọc

Ngân hàng chính sách XH-vì an sinh xã hội

Sự phối hợp đem lại hiệu quả thiết thực

Sự phối hợp đem lại hiệu quả thiết thực

KTNT - Thời gian qua, Trung ương Hội Cựu chiến binh Việt Nam (Hội CCBVN) đã phối hợp chặt chẽ với Ngân hàng Chính sách xã hội (VBSP) chỉ đạo các cấp...