Cơ khí hoá nông nghiệp: Vai trò của các viện nghiên cứu ở đâu?

    3/23/2009 1:06:00 PM

    Bài 1: Chậm do nhiều khó khăn

    Kết quả chưa tương xứng với ầu tư

    Trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội, phát huy vốn con người để có nguồn nhân lực được đào tạo, có chất lượng cao là một trong những yếu tố quan trọng. Và để tránh tụt hậu, thực hiện công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp - nông thôn càng không thể xem nhẹ nguồn nhân lực chất lượng cao, đó là các nhà khoa học trong lĩnh vực nông nghiệp. Tuy nhiên, do nhiều nguyên nhân mà công tác nghiên cứu khoa học trong lĩnh vực nông - lâm nghiệp, cơ khí hóa còn nhiều hạn chế, rất nhiều công trình dù đã tiêu tốn hàng tỷ đồng nhưng lại không gắn với thực tế.

    Bình quân, kinh phí đầu tư cho nghiên cứu khoa học từ ngân sách ở nước ta đã vượt 400 triệu USD/năm. Viện Thông tin khoa học (ISI có trụ sở tại Hoa Kỳ) tiến hành thống kê gần 10.000 tạp chí khoa học tiêu biểu trong suốt 11 năm qua thì các nhà khoa học Việt Nam chỉ công bố được 4.667 công trình trên các tạp chí khoa học quốc tế (độc lập đứng tên chỉ có khoảng 800 bài), trong khi đó Thái Lan là 20.672, Malaysia 13.059, Hàn Quốc 203.637... Theo Bộ Khoa học và Công nghệ, cho đến nay chưa có một khảo sát chính thức đánh giá hiệu quả của con số hàng trăm triệu USD hàng năm mà Nhà nước đầu tư cho các công trình nghiên cứu khoa học. Điều này tất yếu dẫn đến tình trạng lãng phí tiền bạc, tài nguyên của xã hội và nảy sinh hiện tượng “mua - bán”, “cho - tặng” danh vọng.

    Có một thực tế là, nhiều dự án, đề án nghiên cứu khoa học chỉ “sao chép”, cải tiến hoặc “đạo” lẫn nhau... và cho ra những sản phẩm khó có khả năng ứng dụng trong đời sống. Đơn cử như tại tỉnh Bình Phước, qua thanh tra 13 công trình nghiên cứu khoa học thực hiện năm 2006 (vốn đầu tư 20 tỷ đồng), có tới 9 công trình không mang lại hiệu quả, thậm chí... “đắp chiếu”, trong đó có những công trình chỉ vẻn vẹn vài trang giấy nhưng kinh phí lên tới 250 triệu đồng.

    Tại Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL), thế hệ máy gặt đập mới nhất chính là máy MGĐ-20 được Liên minh Hợp tác xã An Giang và các đối tác đưa vào để thực hiện Dự án Phát triển dịch vụ kinh doanh nông thôn. Thông số kỹ thuật của máy như sau: chiều rộng cắt 1,2m, chiều cao cắt 100-500mm, công suất 2ha/ngày, tỷ lệ hao hụt lúa 2%, nhiên liệu tiêu hao 25 lít xăng/ha, chiều dài máy 3,6m, tổng trọng lượng 600kg, giá 45 triệu đồng/chiếc. Nhưng khi đem trình diễn, máy vẫn mắc các “căn bệnh trầm kha” của các loại máy khác là khó gặt lúa đổ ngã, hay mắc nghẹn khi gặt giống lúa cây cứng và không gặt sát bờ được. Điều đó cho thấy, từ nghiên cứu đến thực tế còn khoảng cách khá xa. Hiện, ở “vựa lúa” lớn nhất cả nước này, máy nông nghiệp “made in China” (Trung Quốc) vẫn chiếm thế “thượng phong” vì có “vóc dáng công nghiệp”, dễ tìm phụ tùng thay thế khi có sự cố, có cán bộ kỹ thuật hướng dẫn cách sử dụng cho nông dân, những điều mà ngành cơ khí chế tạo máy nông nghiệp của ta chưa làm được.

    Trong khi chờ đợi các nhà khoa học nghiên cứu, chế tạo các loại máy phục vụ sản xuất, nhiều doanh nghiệp đành chọn giải pháp nhập nhưng đáng tiếc là một số loại khó ứng dụồng vào đồng ruộng nước ta. Chẳng hạn, Công ty Nông nghiệp Sông Hậu từng mua một máy gặt đập liên hợp của Nhật Bản với giá 120 triệu đồng. Máy chạy tốt, công suất 2ha/ngày. Thế nhưng, muốn gặt lúa... phải chờ nắng lên cho mặt ruộng khô ráo, ở ruộng trũng thì máy... chịu thua!

    Trong một phát biểu về thực trạng nghiên cứu khoa học nước nhà, GS. VS. Đặng Hữu, nguyên Bộ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ nhận xét: “Công tác nghiên cứu khoa học nước ta vẫn còn nặng cơ chế xin - cho và không theo một quy tắc thống nhất, mạnh ai nấy làm”. Cả nước có tới 4-5 trường đại học chuyên về công nghệ, chế tạo máy, nông - lâm nghiệp, mỗi năm có tới vài trăm kỹ sư ra trường, nhiều nhà máy chế tạo máy nông nghiệp..., vậy mà bà con nông dân vẫn sản xuất với cái cày, cái cuốc là chính. Tiền Nhà nước chi cho các đề tài nghiên cứu khoa học nông nghiệp có thể nuôi hàng triệu người nông dân theo mức thu nhập hiện thời, trong khi có rất nhiều đề tài bảo vệ xong rồi... cất vào tủ.

    Nguyên nhân?

    Theo Viện Thông tin khoa học, trong 10 năm qua, các nhà khoa học Việt Nam có tổng cộng 4.000 bài báo đã công bố (tính tới tháng 2/2007) trên các tạp chí quốc tế chuẩn mực. Con số đó chỉ tương đương 1/3 số bài báo của các nhà khoa học Malaysia, 1/5 của Thái Lan, 1/11 Singapore, 1/45 Hàn Quốc, 1/108 Trung Quốc và 1/700 bài báo của Hoa Kỳ.

    Tại nhiều nước phát triển, từng lĩnh vực khoa học kỹ thuật có những nhà khoa học nổi trội, ta thường gọi là các nhà khoa học đầu đàn, đây lại là điều nước ta thực sự thiếu. Nguyên nhân sâu xa là do hoạt động khoa học của ta còn mang nặng tính bao cấp. Nhà nước đặt hàng -nhà khoa học thực hiện, hầu như không xem xét nhiều đến hiệu quả kinh tế của các sản phẩm. Ngoài ra, các nhà khoa học cũng cho rằng, kinh phí thiếu, đầu tư dàn trải cũng khiến công tác nghiên cứu chưa đạt được nhiều thành tựu. Nhưng lại có nghịch lý là, trong khi các nhà khoa học kêu thiếu tiền thì năm 2007, Bộ Khoa học và Công nghệ lại hoàn trả ngân sách Nhà nước 125 tỷ đồng vì không bố trí được đề tài.

    Mặt khác, một số nhà khoa học đạt được học hàm, học vị cao lại chuyển sang làm công tác quản lý. Hơn nữa, do một thời gian dài hoạt động theo cơ chế bao cấp, nên đến thời điểm hiện nay, không ít nhà khoa học, tổ chức khoa học công nghệ vẫn có tâm lý ỷ lại.

    Được biết, Chính phủ đã có nhiều chính sách hỗ trợ cho công tác phát triển khoa học công nghệ, đầu tư hơn 20 phòng thí nghiệm với đầy đủ trang thiết bị dành cho nghiên cứu khoa học. Đồng thời, nước ta cũng có cơ chế cho các nhà khoa học trong nước có thể tự do đi bất cứ nước nào để hợp tác nghiên cứu. Vậy, tại sao các nhà khoa học vẫn không “sản sinh” được những công trình có thể ứng dụng vào thực tế?

    Cơ chế khoán, le lói một lối ra

    Theo Bộ Khoa học và Công nghệ, hiện chúng ta có hơn 1.100 tổ chức khoa học công nghệ, khoảng 300 viện nghiên cứu lớn, còn lại là các viện nghiên cứu ở quy mô nhỏ do các tập thể, cá nhân thành lập. Dù nhiều về số lượng nhưng chất lượng và tính thực tiễn của công trình nghiên cứu không được đánh giá cao. Nguyên nhân là do chúng ta chưa xác định rõ nhiệm vụ của viện nghiên cứu là giúp DN tiếp cận kết quả nghiên cứu, cụ thể hóa bằng các sản phẩm phục vụ sản xuất.

    Ngay tại các nước công nghiệp phát triển, sự trợ giúp của Nhà nước không chỉ dành cho nghiên cứu cơ bản, mà còn dành phần đáng kể cho nghiên cứu ứng dụng. Chẳng hạn, tại Hàn Quốc, hoạt động của các trường đại học và viện nghiên cứu từng không được như mong đợi, các DN phải trực tiếp đóng vai trò nghiên cứu tiếp nhận công nghệ, sau đó Chính phủ nước này đã phải tích cực giúp các DN tiếp cận công nghệ, nội địa hoá công nghệ và phát triển theo hướng xây dựng công nghệ của chính mình. Rất tiếc, vấn đề này ở nước ta lại chưa được quan tâm.

    Trước yêu cầu bức xúc của vấn đề khoa học công nghệ với quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Nghị định 115/NĐ-CP ngày 05/9/2005 quy định cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm của các tổ chức khoa học công nghệ công lập. Cơ chế quản lý mở này sẽ giúp phát huy tính năng động sáng tạo cho người nghiên cứu. Khoán kinh phí sẽ giúp người nghiên cứu linh động và lựa chọn phương án tối ưu, có hiệu quả và không bị ràng buộc theo khoản định mức được duyệt theo các khoản ban đầu, tiết kiệm được nhiều khoản chi tiêu không hợp lý, tiết kiệm thời gian và công sức để nhà khoa học tập trung vào nghiên cứu. Người nhận “khoán” được toàn quyền sử dụng kinh phí và nếu làm không được phải chịu trách nhiệm bồi thường.

    Trong buổi làm việc với Bộ Khoa học và Công nghệ và các nhà khoa học gần đây, Tổng bí thư Nông Đức Mạnh đã chỉ rõ: “Liên hệ quyền làm chủ khoa học công nghệ với quyền làm chủ của nông dân trong cơ chế khoán 10, đội ngũ trí thức khoa học công nghệ (KHCN) có làm nên kỳ tích như giai cấp nông dân hay không, điều này phụ thuộc rất nhiều vào cơ chế giải phóng sức sáng tạo của lực lượng khoa học. Bộ Khoa học và Công nghệ cần đề xuất một số giải pháp đột phá, cân đối kinh phí dành cho KHCN để đầu tư tạo môi trường làm việc thuận lợi nhất; có chế độ bảo đảm thu nhập thoả đáng đối với người làm công tác khoa học kỹ thuật; tạo cơ hội thăng tiến trong nghề nghiệp và phải tôn vinh xứng đáng những nhà khoa học...”.

    Thiết nghĩ, khoa học công nghệ chỉ có thể phát triển khi nó gắn với thực tiễn và phục vụ đắc lực cho công cuộc công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn mà chúng ta đang tiến hành.

    Bài 3: Nông dân tự cứu mình

    Vân Nhi

Ý kiến bạn đọc

Tiêu điểm

Niềm tin và nghị lực, bài học từ những gương thương binh

Niềm tin và nghị lực, bài học từ những gương thương binh

KTNT - Hằng ngày, qua thông tin đại chúng, chúng ta đã gặp biết bao điển hình tiên tiến xuất sắc trong mọi lĩnh vực của cuộc sống. Họ thuộc mọi tầng...