Cơ khí hoá nông nghiệp: Hành trình gian nan

    16/03/2009 - 01:04:00

    Bài 1: Chậm do nhiều khó khăn

    Việt Nam là nước nông nghiệp nhưng tỷ lệ sử dụng máy móc trên đồng ruộng rất ít. Thực tế này đã làm cản trở quá trình phát triển ngành nông nghiệp theo hướng nâng cao sản lượng, năng suất. Nguyên nhân thì có nhiều, do ruộng đất manh mún, người nông dân thiếu vốn đầu tư, các nhà khoa học chưa mặn mà trong việc sáng chế máy móc mới phục vụ sản xuất, nhưng chủ yếu là do Nhà nước chưa có cơ chế hỗ trợ phù hợp.

    Tốc độ thực hiện... rùa bò

    Theo thống kê, cả nước có khoảng 115.000 trang trại, hơn 7.000 hợp tác xã nông, lâm nghiệp, thủy sản. Tốc độ tăng trưởng sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp duy trì ở mức 3,7%, giá trị tổng sản lượng tăng bình quân 5,2%/năm. Giá trị sản xuất nông nghiệp chiếm 20% GDP cả nước. Mức tăng này được các chuyên gia đánh giá là chậm so với các nước trong khu vực mà nguyên nhân chính là do tốc độ triển khai cơ khí hóa quá thấp.

    Ông Đoàn Xuân Hòa, Phó cục trưởng Cục Chế biến, Thương mại nông, lâm, thuỷ sản và Nghề muối (Bộ Nông nghiệp và PTNT) cho biết, những năm qua, việc thực hiện cơ khí hóa nông nghiệp của nước ta rất thấp và chậm, trang bị động lực bình quân chỉ đạt 0,57 mã lực/ha đất canh tác, trong đó máy tự chế không qua đăng kiểm chiếm tới 10%. Điều này khiến chi phí sản xuất nông nghiệp bị đẩy lên cao, năng suất lao động thấp, chất lượng sản phẩm không ổn định, độ bền kém; trang thiết bị, công nghệ đa phần lạc hậu, thô sơ...

    Theo Viện Lúa Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL), ước tính mỗi năm nông dân trồng lúa ở ĐBSCL mất 3.200 - 3.600 tỷ đồng vì thất thoát sau thu hoạch, chiếm gần 12% tổng sản lượng. Hiện, ĐBSCL có hơn 42.100 máy tuốt lúa, 2.793 máy gặt xếp dãy và 600 máy gặt đập liên hợp... Theo đánh giá của Bộ Nông nghiệp và PTNT thì hiện nay, máy gặt lúa mới đảm đương được 1% diện tích ở ĐBSCL, còn lại bà con vẫn phải làm bằng phương pháp thủ công. Chỉ có các khâu như làm đất, bơm tưới, gieo cấy, chăm sóc bước đầu được cơ giới hóa.

    Các tỉnh như Hòa Bình, Bắc Giang, Hải Dương, Nghệ An, Quảng Nam, Quảng Ngãi,... những năm qua đã có chính sách hỗ trợ lãi suất vay vốn ngân hàng cho nông dân để mua máy phục vụ sản xuất, do đó ở những tỉnh này cơ khí hoá nông nghiệp đã được đẩy mạnh. Riêng Nghệ An, do có lộ trình hỗ trợ cụ thể, khuyến khích nông dân đầu tư máy, thiết bị trong sản xuất theo giai đoạn, quy mô và trình độ thiết bị nên việc thực hiện cơ khí hoá đã đạt được nhiều kết quả khả quan.

    Tuy nhiên, những tỉnh như vậy chỉ đếm trên đầu ngón tay bởi việc thực hiện cơ khí hoá tại nhiều địa phương còn vướng mắc trong chính sách hỗ trợ, quy trình, thủ tục thực hiện rườm rà, phức tạp. Đặc biệt, việc thẩm định cho vay vốn của ngân hàng rất rắc rối, nhiêu khê, mất thời gian nên nông dân không mấy mặn mà. Đó là chưa kể việc cơ chế hỗ trợ chưa phù hợp, một bộ phận cán bộ thực thi chưa nhiệt tình, thiếu trách nhiệm. Hơn nữa, một số địa phương cũng chưa quan tâm, chưa có chính sách hỗ trợ nông dân mua máy nông nghiệp thích đáng.

    Khó khăn do đâu?

    - Theo Bộ Nông nghiệp và PTNT, cơ khí hoá nông nghiệp, nông thôn hiện mới chỉ tập trung ở khâu làm đất, tuốt đập và xay xát lúa, gạo. Đến nay, mức độ bình quân cơ khí hoá làm đất trồng lúa và màu đạt 72%; cây trồng cạn khác (lạc, đậu, mía) 23%; tưới lúa 84%; phun thuốc trừ sâu bằng máy 6%; vận chuyển nông nghiệp, nông thôn 66%; sấy lúa vụ hè thu ở ĐBSCL 38,7%; xay xát lúa gạo 90%...

    - Hiện, cả nước có khoảng 1.300 doanh nghiệp, cơ sở chuyên sản xuất, kinh doanh các loại máy kéo, máy nông nghiệp và thiết bị cơ khí phục vụ nông nghiệp; 1.218 cơ sở chuyên sửa chữa, bảo dưỡng bảo hành máy móc, thiết bị cơ khí nhưng vẫn chưa thể đáp ứng được nhu cầu. Cụ thể: người nuôi tôm mỗi năm cần khoảng 70.000 máy nổ các loại có động cơ 6 - 10 mã lực, trong khi năng lực sản xuất của các doanh nghiệp trong nước chỉ đạt khoảng 25.000 máy. Trong số 45.000 máy phải nhập thì đa phần là của Trung Quốc hoặc máy đã qua sử dụng của Nhật Bản, Hàn Quốc...

    TS. Lê Văn Bảnh, Viện trưởng Viện Lúa ĐBSCL cho rằng, nguyên nhân chính dẫn đến tình trạng trên là do hạ tầng nông thôn còn nhiều khó khăn, đồng ruộng bị chia cắt manh mún nên rất khó đưa cơ khí hoá vào đồng ruộng. Từ lâu, ĐBSCL được xác định là vựa lúa gạo, thuỷ sản và trái cây lớn nhất cả nước. Tuy nhiên, vùng này hiện không hề có trường đào tạo chuyên ngành nông nghiệp. Vì thế, nguồn nhân lực ít ỏi hiện tại không thể đáp ứng yêu cầu giúp ĐBSCL khai thác tốt lợi thế.

    TS. Phan Hiếu Hiền, Trường Đại học Nông - Lâm TP. Hồ Chí Minh cho rằng, những yếu kém trong việc cơ giới hóa nông nghiệp ở ĐBSCL đã quá rõ. Hơn 10 năm trước, nông dân phải vừa lo sản xuất vừa lo bảo quản lúa. Đến nay, cách làm trên vẫn không thay đổi. Trong khi đó, các doanh nghiệp kinh doanh lương thực hội đủ các điều kiện về kho bãi, kỹ thuật, vốn thì không bảo quản lúa mà chủ yếu chỉ bảo quản gạo, chờ chuyển ra cảng để xuất khẩu. Hệ thống kinh doanh lúa gạo hiện nay không kiểm soát được quá trình bảo quản lúa, điều này làm tăng thêm tỷ lệ hao hụt lúa sau thu hoạch và làm giảm chất lượng gạo.

    Hiện, khoảng 85% nông dân ĐBSCL vẫn dùng phương pháp sạ lan theo tập quán lâu đời. Việc cắt, gặt hầu như chỉ làm thủ công. Nông dân ít dùng máy gặt xếp dãy vì ruộng ướt, không rải lúa được. Lúa ở ĐBSCL thường là giống thân cao, trong khi đa số máy gặt hiện nay chưa có bộ phận điều chỉnh chiều cao cắt thích hợp. Thêm nữa, việc đầu tư mua máy gặt khá tốn kém, giá trị từ 150-200 triệu đồng/máy trong khi hộ nông dân có diện tích ruộng nhỏ, manh mún, nguồn thu nhập từ lúa còn thấp nên khó có khả năng mua máy.

    Một nguyên nhân nữa khiến việc cơ khí hóa diễn ra chậm chạp, ì ạch là do quá trình đưa máy vào đồng ruộng còn gặp trở ngại từ chính người nông dân. Anh Nguyễn Đức Toàn, cán bộ Phòng Thị trường (Tổng công ty Máy động lực và Máy nông nghiệp Việt Nam - VEAM) cho biết, trình độ áp dụng khoa học công nghệ của bà con nhìn chung còn yếu, nhỏ lẻ, phân tán; tâm lý ngại tiếp cận cái mới khiến máy nông nghiệp khó tiêu thụ. “Mặc dù, chúng tôi thường xuyên mang các loại máy nông nghiệp đi giới thiệu tại các địa phương nhưng phần lớn bà con chỉ tới xem mà không mua”, anh Toàn cho hay.

    Ngoài ra, trên thị trường, nguồn máy móc sản xuất trong nước còn hạn chế về số lượng, chất lượng, chủng loại và giá cả chưa hợp lý. Máy nhập khẩu nhiều nhưng phần lớn là hàng đã qua sử dụng không rõ nguồn gốc, làm ảnh hưởng đến sản xuất cơ khí trong nước, môi trường cạnh tranh và quá trình vận hành của nông dân, nhất là khâu bảo dưỡng, thay thế phụ tùng...

    Để đẩy nhanh tốc độ cơ khí hoá nông nghiệp, Chính phủ đã phê duyệt Chiến lược phát triển ngành cơ khí Việt Nam đến năm 2010, tầm nhìn tới 2020. Theo đó, thiết bị, máy móc phục vụ nông nghiệp thuộc chương trình cơ khí trọng điểm được ưu tiên đầu tư, phấn đấu đến năm 2010 ngành cơ khí đáp ứng được 45-50% nhu cầu sản phẩm cơ khí cả nước. Ngoài ra, Chính phủ còn cho phép các tỉnh, thành phố hỗ trợ nông dân mua sắm máy móc phục vụ sản xuất nông nghiệp bằng ngân sách của địa phương. Đây chính là những nhiệm vụ cụ thể mà các địa phương đã và đang áp dụng vào thực tế nhằm nhanh chóng cơ giới hoá nông nghiệp, đáp ứng yêu cầu phát triển của nền kinh tế.

    Tuy nhiên, nhiều người cho rằng, Chiến lược này sẽ khó đạt được mục tiêu đề ra do nhiều vấn đề còn tồn tại, mà một trong những cản trở đó là hệ thống viện, trường nghiên cứu nước ta còn quá ít và chưa thể hiện được vai trò của mình trong ngành nông nghiệp.

    Bài 2: Vai trò của các viện nghiên cứu ở đâu?

    Vân Nhi

     

Ý kiến bạn đọc

Tiêu điểm

Quản lý tốt sản xuất, kinh doanh vật tư nông nghiệp: Thu nhập của nông dân sẽ nâng lên

Quản lý tốt sản xuất, kinh doanh vật tư nông nghiệp: Thu nhập của nông dân sẽ nâng lên

KTNT - Nâng cao thu nhập cho nông dân là bài toán thu hút sự quan tâm của toàn xã hội. Tại diễn đàn Quốc hội khóa XIII, Kỳ họp thứ 6, nhiều đại biểu...