Gặp người 7 năm bảo vệ Bác    Họp mặt kiều bào mừng Xuân Kỷ Sửu 2009    Quả quất phòng bệnh mùa đông    Trần Thanh Tịnh khắc sâu lời Bác dạy: Làm việc gì cũng phải cố gắng    Kịch bản nào cho nền kinh tế năm 2009   
Chứng khoán
Xổ số
Truyền hình
Dự báo thời tiết
Giá vàng
Tỷ giá ngoại tệ
In bài này Gửi bài viết này cho bạn bè
(Thứ Hai, 15/09/2008-3:59 PM)
Những chuyển biến tích cực của thị tr­ường nguyên liệu chè
KTNT- Trên thị trường, có nhiều thành phần kinh tế tham gia lưu thông hàng hoá nguyên liệu chè, các chủ thể tham gia trên thị trường vừa cạnh tranh vừa liên kết với nhau và đã xuất hiện các hình thức đa dạng trong lĩnh vực cung ứng nguyên liệu.

Sự liên kết giữa các thành phần kinh tế

Hiện nay, các đơn vị sản xuất nguyên liệu chè đã có sự tham gia của nhiều thành phần kinh tế, trong đó kinh tế tư nhân mà điển hình là kinh tế cá thể chiếm ưu thế. Kinh tế hộ gia đình sản xuất đã và đang trở thành bộ phận quan trọng trong việc cung hàng hoá nguyên liệu cho thị trường nguyên liệu.

Trước đây, vai trò của hợp tác xã khá quan trọng nhưng hiện nay, do chủ trương giao đất lâu dài, vườn chè được chuyển giao cho các hộ gia đình sản xuất. Hộ gia đình gồm hộ gia đình xã viên và hộ gia đình công nhân viên chức là những đơn vị canh tác mới nhưng thực chất vẫn là thành viên của các xí nghiệp nên phát triển vẫn theo định hướng của các xí nghiệp, song quy mô hộ rất nhỏ do điều kiện về vốn, nguồn lao động và trình độ quản lý còn hạn chế.

Trong khi đó, các xí nghiệp tư doanh đang ngày càng phát triển và mở rộng diện tích vùng nguyên liệu, ứng dụng khoa học - kỹ thuật hiện đại vào sản xuất nguyên liệu; từ chính sách chuyển giao tư liệu sản xuất cho các hộ và chủ trương bán vườn chè, xu hướng tư nhân hoá đang được phát triển và ngày càng có ưu thế. Ngoài ra, các kinh tế hộ gia đình không tham gia hợp tác xã cũng là những cơ sở sản xuất và cung cấp nguyên liệu cho thị trường. ở Thái Nguyên, kinh tế cá thể tiểu chủ cung cấp cho thị trường trung bình hơn 10.000 tấn nguyên liệu /năm.

Trong điều kiện kinh tế mở, các cơ sở sản xuất nguyên liệu đang từng bước chủ động hợp tác với nước ngoài nhằm tìm kiếm vốn và tiếp cận KH - CN. Trong 5 năm qua, tổng số vốn ADB đầu tư cho phát triển chè tại Thái Nguyên là 48.267 triệu đồng, chiếm 34,78% số vốn đầu tư cho phát triển chè, trong đó vốn tín dụng là 46.462 triệu đồng, vốn phi tín dụng là 1.835, 845 triệu đồng cùng một số thiết bị phục vụ cho sản xuất chè của tỉnh như máy tính, máy chụp ảnh, test thử nhanh dư lượng độc hại chè.

Tính đa dạng về các chủ thể tham gia lưu thông trên thị trường nguyên liệu chè ở Thái Nguyên nổi lên là kinh tế tư nhân với ưu thế cả về tỷ trọng và lượng nguyên liệu cung cấp trên thị trường. Kinh tế tư nhân với tư cách là những chủ thể lưu thông hàng hoá nguyên liệu chè trên thị trường một cách độc lập, hình thành các hộ gia đình ở nông thôn. Các hộ gia đình hoặc là các hộ sản xuất kinh doanh tổng hợp như sản xuất, tiêu thụ nguyên liệu hoặc là những tiểu thương chuyên cung ứng nguyên liệu. Các hợp tác xã theo kiểu cũ hầu như không còn tồn tại mà chuyển sang đổi mới cơ chế quản lý, chuyển trọng tâm sang làm dịch vụ cho các kinh tế hộ như hợp tác xã Hương Xuân, Liên Xuân... chuyên cung cấp giống, dịch vụ tưới nước...

Cần sự liên kết giữa các thành phần kinh tế.

Giao dịch bằng nhiều hình thức

Hiện nay, các hình thức hợp tác trong lĩnh vực cung ứng nguyên liệu chè ra thị trường được phát triển dưới nhiều hình thức, nhiều cấp độ như hợp tác một khâu, hợp tác nhiều khâu, hợp tác góp sức góp vốn... và tương ứng là có các loại hình thích hợp như hợp tác mang tính tạm thời (không đăng ký kinh doanh), hợp tác chặt chẽ (hình thành hợp tác xã sản xuất).... Với nhiều cấp độ khác nhau trong lĩnh vực cung ứng nguyên liệu chè, trên thị trường đã xuất hiện nhiều hình thức hợp tác đa dạng, góp phần làm phong phú thêm những hoạt động của thị trường này.

Thông thường, nguyên liệu vẫn được các hộ gia đình tiêu thụ trên thị trường bằng cách bán cho tư thương hoặc bán trực tiếp cho các cơ sở chế biến công nghiệp. Việc bán cho tư thương gây nhiều thiệt thòi cho nông dân bởi qua nhiều khâu trung gian, lại chỉ đáp ứng được phần nào nhu cầu thị trường và mỗi khi đúng mùa vụ, cùng với tính chất tươi sống đặc thù, đòi hỏi phải chế biến ngay nên người nông dân thường bị ép giá do không có đối thủ cạnh tranh.

Thời gian gần đây đã xuất hiện nhiều kênh sản xuất và tiêu thụ trong đó có hình thức liên kết giữa những người sản xuất nguyên liệu với cơ sở chế biến và mang lại hiệu quả kinh tế cao. Các doanh nghiệp chế biến công nghiệp thuộc các thành phần kinh tế bắt đầu thực hiện ký hợp đồng với người trồng nguyên liệu, gắn kết sản xuất nguyên liệu với chế biến công nghiệp. Năm 2001, Thái Nguyên chỉ có 27,8% số cơ sở liên kết với người sản xuất nguyên liệu chè thì đến năm 2007, con số này đã là 48,7%.

Như vậy, đây là tín hiệu đáng mừng cho việc phát triển thị trường nguyên liệu, số cơ sở CBCN liên kết với người sản xuất nguyên liệu tăng dần đều ở mức ổn định, việc làm này, một mặt để nông dân ổn định nguồn nguyên liệu cho công nghiệp chế biến, mặt khác, giúp các cơ sở chế biến có nguồn cung ổn định với giá cả hợp lý, tạo sự thống nhất cung - cầu trên thị trường, phần nào khắc phục tình trạng “khập khiễng” như hiện nay.

Trong các vùng giáp nơi sản xuất nguyên liệu đã bắt đầu hình thành những chợ nguyên liệu khi mùa vụ tới không những làm chức năng liên kết giữa sản xuất và tiêu thụ, chế biến mà còn là nơi cung cấp thông tin, giá cả, cung cấp các dịch vụ khác. Tại đây, người nông dân biết thêm về giống, kỹ thuật, nhu cầu thị trường, yêu cầu chất lượng nguyên liệu hoặc những thông tin về giá cả, từ đó, thay đổi cách thức sản xuất “cái mình có” và chuyển sang sản xuất “cái thị trường cần”.

Đặc biệt, hình thức thương mại điện tử cũng xuất hiện, thông qua hệ thống giao dịch kiểu này, người mua và người bán nguyên liệu có những thông tin mang tính thời sự nhất về giá cả, nguồn cung, cầu, tiêu chí chất lượng hàng hoá.... Các cơ sở sản xuất và chế biến đã bắt đầu chú ý tới việc tạo lập thương hiệu, quảng bá sản phẩm của mình trên thị truờng. Hiện nay đã có công ty chè Hoàng Bình, công ty cổ phần chè Quân Chu, công ty chè Kim Anh … lập trang web quảng bá và cung cấp các thông tin về công ty cũng như sản phẩm của công ty nhằm mở rộng thị trường.

Phương thức mua bán hàng hoá nguyên liệu chè đa dạng, phong phú hơn như mua bán theo hợp đồng, bán buôn, bán lẻ, mua trước thanh toán sau... Phương thức thanh toán cũng rất đa dạng như tiền mặt, séc, ngoại tệ... Các chủ thể khi tham gia thị trường cũng xuất hiện nhiều kiểu quan hệ:

Quan hệ “mua đứt bán đoạn”, người mua và người bán quan hệ với nhau thông qua quan hệ hàng - tiền, phụ thuộc và liên kết chặt chẽ với nhau nhưng lại độc lập tương đối với nhau khiến quan hệ mua bán diễn ra độc lập hơn. Quan hệ kiểu này giúp người sản xuất nguyên liệu chủ động tính toán quá trình kinh doanh, chu chuyển vốn nhanh hơn nhưng khi gặp biến động của thị trường, giá cả nguyên liệu giảm khiến họ thua lỗ, ví dụ năm 2005, các hộ đầu tư trồng chè nguyên liệu ở huyện Đại Từ cho thấy điều đó: đầu tư trồng 1 ha chè giống mới tổng cộng hết khoảng trên dưới 5 triệu đồng nhưng khi thu hoạch bán được hơn 3 triệu đồng.

Quan hệ trực tiếp giữa người mua và người bán là quan hệ hàng đổi hàng. ở thị trường nguyên liệu chè trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên hiện nay, quan hệ này diễn ra tương đối phổ biến, nó có tính tích cực là khi người nông dân trồng nguyên liệu thiếu vốn đầu tư giống, phân bón... thì các công ty chế biến chè bỏ vốn ra đầu tư thông qua việc cung ứng giống, kỹ thuật, phân bón, thuốc trừ sâu... cho các hộ gia đình sản xuất nguyên liệu; khi thu hoạch, họ thanh toán bằng số lượng nguyên liệu. Đây chính là hình thức các công ty chế biến chè bao cả “đầu ra” và “đầu vào”. Hình thức này có lợi cho người sản xuất nguyên liệu khi giá nguyên liệu không ổn định, song trên thực tế, khi giá nguyên liệu vì lý do gì đó tăng cao, vẫn xảy ra hiện tượng các hộ gia đình phá hợp đồng, bán trên thị trường tự do nhằm mục đích thu lời hơn. Ngược lại, khi giá nguyên liệu giảm, các hộ gia đình sẵn sàng phá bỏ vườn chè để trồng cây khác có lợi ích kinh tế hơn.

Cơ chế mở cho người trồng chè

Về cơ bản, người sản xuất chè nguyên liệu đều ổn định sản xuất trên cở sở nhận khoán và trở thành những hộ tự chủ tham gia sản xuất chè nguyên liệu. Trên cơ sở pháp lý quy định, Tỉnh đã bước đầu thực hiện chính sách giao đất cho các hộ sử dụng lâu dài (50 năm) và thực hiện chính sách bán vườn chè cho các hộ công nhân viên chức nhằm khuyến khích sản xuất. Trên cơ sở quy hoạch đất đai chung, các hộ trồng chè được nhận các dịch vụ làm đất, hướng dẫn kỹ thuật, tự chịu trách nhiệm về công lao động và chăm sóc chè. Các hộ sản xuất phải trả dần chi phí dịch vụ và vật tư kỹ thuật thông qua sản phẩm thu hoạch hàng năm. Đây là hình thức hợp tác trồng mới nhưng được nguời sản xuất nguyên liệu hưởng ứng cao nên diện tích các vùng chè trong những năm qua tăng rất nhanh.

Cần có cơ chế mở cho người trồng chè.

Xu hướng hình thành này rất rõ nét trong những năm gần đây ở thị trường nguyên liệu chè Thái Nguyên. Nguyên liệu chè thực sự đã trở thành hàng hoá đem ra trao đổi mua bán trên thị trường. Tình trạng ngăn sông cấm chợ trước kia không còn, hàng hoá nguyên liệu chè được tự do lưu thôngvới giá cả thị trường, quan hệ giữa người mua với người bán được thực hiện thông qua thị trường.

Cơ chế tập trung quan liêu bao cấp làm cho sản xuất và tiêu dùng bị khép kín trong phạm vi địa bàn nhỏ hẹp, cung - cầu mất cân đối nghiêm trọng, nơi cần thì thiếu nguyên liệu, nơi không cần lại thừa nguyên liệu gây ra tình trạng căng thẳng, khó khăn cho cả người sản xuất nguyên liệu cũng như các cơ sở chế biến. Đồng thời, trong sản xuất và chế biến, họ còn phải chịu những chi phí không đáng có làm giá cả nguyên liệu tăng cao nhưng người sản xuất nguyên liệu thì không được hưởng trong khi người mua nguyên liệu lại rơi vào tình trạng khó khăn trong thu nguyên liệu phục vụ công nghiệp chế biến.

Hiện nay, thị trường nguyên liệu chè ở Thái Nguyên đã tạo những điều kiện thuận lợi cho cả người sản xuất nguyên liệu và các cơ sở chế biến. Tự do lưu thông giúp nguyên liệu tới tận tay các cơ sở chế biến, cung bước đầu phù hợp với cầu, quan hệ giữa những người có nhu cầu nguyên liệu gặp người có cung và được tự do lựa chọn, đánh giá chất lượng, thoả thuận giá cả, giảm thiểu tình trạng đầu cơ tích trữ. Đây cũng chính là lý do hình thành những chợ nguyên liệu, các điểm mua bán nguyên liệu mà ở đó người sản xuất nguyên liệu và người có nhu cầu về nguyên liệu gặp nhau.

Ngô Thị Hồng Ninh

Ý kiến của bạn
Tên của bạn:  
Email của bạn:  
Tệp đính kèm:
Tiêu đề:  
Nội dung:  
    [ Các bài mới ]
    [ Các bài đã đăng ]
    Tiêu điểm
    Quy hoạch Thủ đô mới không thể vội vàng
    Thực hiện QĐ 289 của Chính phủ: Bao giờ tiền hỗ trợ đến tay ngư dân?
    Nông nghiệp đô thị, vẫn là sự sáng tạo của người dân (Bài 2): Lối đi nào?
    Chính sách mới đối với tam nông là thực hiện công bằng xã hội (Bài cuối): Tín hiệu vui
    Chính sách mới đối với tam nông là thực hiện công bằng xã hội (Bài IV): Nông dân là trung tâm
    Chính sách mới đối với tam nông là thực hiện công bằng xã hội (Bài III): Tam nông, nhìn từ Trung Quốc
    Báo điện tử Kinh tế nông thôn - Toà soạn: 57 Hàng Chuối, Hà Nội; ISSL 1859-2456
    Tổng Biên tập: Nguyễn Anh Tuấn
    Phó Tổng Biên tập phụ trách nội dung: Nguyễn Mạnh Hưng

    Số giấy phép: 273/GP-BC do Cục Báo chí - Bộ Văn Hoá - Thông tin cấp ngày 06/09/2006
    ®Ghi rõ nguồn "www.kinhtenongthon.com.vn" khi bạn phát hành lại thông tin từ website này
    Hoan nghênh bạn đọc góp ý, phê bình !
    ®Develop 2006 by 3CSoft