KTNT- Năm 2007, chế biến chè trong nhân dân chiếm 66,34% sản lượng chè toàn tỉnh Thái Nguyên. Chủ yếu chè chế biến hộ gia đình là chè xanh thành phẩm tiêu dùng hàng ngày và chè bán thành phẩm làm nguyên liệu cho chế biến công nghiệp.Cung – cầu bất xứng
Đã có 63,7% so với tổng số hộ trồng chè sử dụng 29.353 máy chế biến chè các loại, bình quân cứ 1, 5 hộ có 1 máy chế biến chè. Do áp dụng công cụ chế biến bằng máy và công cụ cải tiến đã giảm được 2/3 thời gian chế biến, giảm công chế biến chỉ còn 1/4, tiết kiệm chất đốt được 1,6 - 2 lần khiến giá thành chè bán thành phẩm phục vụ cho công nghiệp chế biến giảm xuống tương đối nhiều.
Trung bình, với một cơ sở chế biến công nghiệp có công suất thiết kế là 4.680 tấn /năm sẽ cần tương ứng 6.205 tấn chè búp tươi. Nếu sử dụng 100% công suất thiết kế thì với 39 cơ sở chế biến công nghiệp, tổng khối lượng nguyên liệu chè mà các cơ sở này cần là 91.467 tấn nguyên liệu chè. Tuy nhiên, trên thực tế, các cơ sở chế biến chè chỉ sử dụng khoảng 50% công suất thiết kế [38], cụ thể là chế biến 46.036 tấn nguyên liệu chè, trong khi, như đã đề cập ở trên, sản lượng chè búp tươi cung ra thị trường năm 2007 là 125.450 tấn. Từ phân tích thực trạng này cho thấy, cầu về nguyên liệu chè cho công nghiệp chế biến của tỉnh Thái Nguyên còn rất thấp và chưa tương ứng với nguồn cung, dẫn đến một thực tế là rất nhiều nông dân trồng chè vẫn có nhu cầu bán chè nguyên liệu, công suất máy vẫn còn mà chế biến công nghiệp lại đạt tỷ lệ thấp.
Trên thị trường nguyên liệu, cầu nguyên liệu chè cho công nghiệp chế biến duy trì ở mức thấp so với lượng nguyên liệu cung ra thị trường. Chỉ số phát triển của cả mức cung và cầu nguyên liệu có sự thay đổi không tương đồng nhau. Với mức cầu, chỉ số phát triển chỉ tăng nhẹ và năm 2007 lại giảm mạnh so với năm 2006: 21,4% trong khi chỉ số phát triển của cung nguyên liệu của năm 2007 giảm có 6,5% so với năm 2006. Khi cung nguyên liệu chè năm 2004 tăng 28,1% so với năm 2003 thì mức cầu của năm này so với năm 2003 chỉ là 0,7%.
Điều này cho thấy, mức tăng hay giảm cầu nguyên liệu không tương đồng với mức tăng hay giảm cung nguyên liệu trên thị trường nguyên liệu. Nhìn chung, mức cung - cầu trên thị trường nguyên liệu chè ở Thái Nguyên từ năm 2001 trở lại đây chưa “gặp nhau”, mức cung thường lớn trong khi mức cầu nguyên liệu cho công nghiệp chế biến còn hạn chế. Điều này dẫn tới sự rối loạn trên thị truờng nguyên liệu, gây khó khăn và thiệt hại cho người sản xuất nguyên liệu cũng như các cơ sở chế biến công nghiệp. Thực tế này đặt ra cho ngành chè Thái Nguyên phải có chiến lược tăng tốc trong thời gian tới với những chính sách đồng bộ về đầu tư phát triển nhằm tạo một thị trường nguyên liệu hoạt động hiệu quả.
Về giá cả nguyên liệu chè: mức giá nguyên liệu trên thị trường trong những năm gần đây cũng có những biến động theo hướng tích cực, có lợi cho người sản xuất nguyên liệu, giá nguyên liệu trung bình trên toàn tỉnh tăng dần đều. Tính tới tháng 8/2008, mức giá chè nguyên liệu trung bình của toàn tỉnh đã là 6.600đ/ kg, tăng 1.600đ/ kg so với năm 2007 - mức tăng cao nhất trong 7 năm trở lại đây.
Doanh thu chưa tương xứng
Qua phân tích, một điều dễ nhận thấy là khoảng cách giữa mức giá cả nguyên liệu chè cao nhất và mức giá thấp nhất tương đối lớn, càng về thời gian gần đây, mức chênh lệch càng cao: trong gần 3 quý đầu năm 2008, mức giá chè nguyên liệu cao nhất lớn hơn mức giá chè nguyên liệu thấp nhất tới 6.800đ/ kg và đây cũng là mức chênh cao nhất từ năm 2001 trở lại đây. ở hai năm trước đó, mức chênh thường trên dưới 6.000đ/ kg: năm 2006 là 5.500đ/ kg và 2007 là 6.000đ/ kg. Từ năm 2001 đến 2005, mức giá chênh dao động trong khoảng từ 900 - 2.000đ/ kg. Như vậy, càng gần đây, khoảng cách giá nguyên liệu càng rộng dần ra, điều này phản ánh thị trường nguyên liệu đã có sự thay đổi, đã bắt đầu hướng tới những nguyên liệu chất lượng cao, đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm và đặc biệt là nguồn nguyên liệu thật sự “sạch” phục vụ cho CNCB nhằm tạo dựng, củng cố thương hiệu chè Thái Nguyên trên thị trường trong nước cũng như thế giới. Trong xu thế hiện nay, người tiêu dùng trong nước cũng như trên thế giới sẵn sàng chi trả để được sử dụng chè thành phẩm có chất lượng thực sự, đây là gợi ý để các cơ quan liên quan và các cơ sở sản xuất nguyên liệu có chính sách hướng tới xây dựng những vùng nguyên liệu sạch, sản xuất những hàng hóa chè thành phẩm cá biệt nhằm đưa ra thị trường những mặt hàng tương xứng với tiềm năng và lợi thế về cây chè của tỉnh Thái Nguyên.
Dù ngành chè được coi là ngành kinh tế mũi nhọn của tỉnh nhưng trong thời gian vừa qua, doanh thu của ngành chè so với GDP toàn tỉnh gần như không hề tăng và luôn giảm: từ năm 2003 đến 2007, tốc độ tăng doanh thu bình quân ngành chè so với GDP là 5,34%; riêng năm 2003 tăng nhẹ, ở mức 0,25%. Tốc độ tăng bình quân tổng doanh thu ngành chè từ năm 2002 đến năm 2007 là 5, 60. Qua đó, có thể thấy doanh thu ngành chè chưa tương xứng với vị trí và tiềm năng trong nền kinh tế toàn tỉnh. Thực trạng này đòi hỏi ngành chè Thái Nguyên phải có chiến lược thực sự mạnh mẽ nhằm tăng tốc trong thời gian tiếp theo với những chính sách mạnh mẽ, đồng bộ về mọi mặt nhằm thúc đẩy ngành chè phát triển bền vững.
|