KTNT- Trong nền sản xuất hàng hoá, những ngành kinh tế riêng biệt ngày càng tăng lên với xu hướng chuyên môn hoá ngày càng cao. Và việc hình thành một ngành công nghiệp riêng biệt, chuyên chế biến sản phẩm thành phẩm tiêu dùng cũng không nằm ngoài xu thế tất yếu đó.Thị trường nguyên liệu chè là một bộ phận của thị trường đầu vào nói chung; là nơi diễn ra những hoạt động trao đổi mua bán chè nguyên liệu đã được sản xuất ra và được sử dụng tiếp để tạo nên sản phẩm mới; trong đó phản ánh mọi quan hệ giữa người sản xuất và người tiêu dùng cho sản xuất; giữa cung, cầu và những mối quan hệ, thông tin kinh tế nảy sinh trong lĩnh vực này.
Mặt khác, thị trường nguyên liệu chè là thị trường phát sinh, chỉ khi có nhu cầu về sản xuất chế biến chè thì mới có thị trường này. Nguyên liệu chè là yếu tố đầu vào cần thiết và quan trọng đối với công nghiệp chế biến chè. Tuy nhiên, do sản xuất nông nghiệp và nông sản chè có những tính chất và đặc điểm khác biệt do với những ngành sản xuất khác nên thị trường nguyên liệu chè cũng có những vai trò và đặc trưng riêng.
Vai trò của thị trường nguyên liệu
Thị trường nguyên liệu chè là điều kiện cơ bản đảm bảo nhu cầu “đầu vào” cho công nghiệp chế biến chè. Quá trình sản xuất và chế biến chè là quá trình chi phí lao động và các yếu tố đầu vào khác, trong đó có chè nguyên liệu là yếu tố chính. Nếu không có thị trường nguyên liệu, cung không kịp thời đáp ứng cầu nguyên liệu chè thì quá trình tái sản xuất không thể diễn ra bình thường.
Thị trường nguyên liệu chè cũng là nơi thực hiện sự chuyển hoá vốn và cung cấp cho người trồng chè những thông tin về hàng hoá nguyên liệu của họ, nó xác định việc sản xuất kinh doanh của người trồng chè có đạt hiệu quả hay không. Thị trường nguyên liệu chè là nơi chuyển hoá hàng hoá nguyên liệu chè thành hình thái tiền và ngược lại “Hình thái trực tiếp của lưu thông hàng hoá là H - T - H, tức là sự chuyển hoá của hàng hoá thành tiền và sự chuyển hoá ngược lại của tiền thành hàng hoá tức là để bán và mua”.
Trong thị trường nguyên liệu, người trồng chè nguyên liệu thông qua tín hiệu giá cả sẽ tự tìm cho mình phương án sản xuất kinh doanh có lợi nhất; giá cả luôn phản ánh mối quan hệ cung - cầu, trên cơ sở đó, sản xuất và tiêu thụ vận động quanh mối quan hệ này, và vì vậy, sự thành đạt của người trồng nguyên liệu chè ít nhiều dựa vào các quan hệ trong thị trường nguyên liệu.
Thị trường nguyên liệu chè góp phần thúc đẩy phân công lại lao động xã hội và chuyên môn hoá ngành nghề; thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp, nông thôn theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá. Sự chuyên môn hoá làm cho năng suất lao động tăng lên, lực lượng sản xuất phát triển mạnh mẽ; chính mức độ tập trung chuyên môn hoá đã tạo ra nhu cầu trao đổi sản phẩm và như vậy, phân công lao động xã hội ngày càng sâu rộng hơn. Khi chưa có thị trường nguyên liệu chè phục vụ cho công nghiệp chế biến, sự chuyên môn hoá ngành nghề không rõ nét, và tất nhiên, phân công lao động xã hội còn rất hạn chế. Sự trao đổi hàng hoá mở rộng thúc đẩy quá trình phân công lại lao động và thị trường nguyên liệu, hình thành hệ thống dịch vụ và mạng lưới các chủ thể tham gia thị trường. Khi kinh tế hàng hoá phát triển, các quan hệ thị trường mở rộng, các cơ sở chế biến chè có cơ hội lựa chọn nguyên liệu cho mình mà thị trường nguyên liệu cung cấp; ngược lại, với quá trình chuyên môn hoá đó, người sản xuất nguyên liệu sẽ tham gia trao đổi trên thị trường và hình thành các mối quan hệ hợp tác chặt chẽ hơn, đáp ứng tốt hơn những nhu cầu của mình.
Với sự tác động qua lại đó tất yếu sẽ diễn ra một cơ cấu phân công lao động mới, nói một cách khác đi, thị trường nguyên liệu chè sẽ tác động một cách tích cực tới sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp nông thôn mà biểu hiện rõ nhất là hình thành các vùng chuyên canh nguyên liệu.
Thị trường nguyên liệu không chỉ dừng lại ở việc có ảnh hưởng to lớn với sản xuất nông nghiệp và công nghiệp chế biến mà còn tác động tới đời sống xã hội nông thôn. Đây là nơi diễn ra những hoạt động trao đổi, giao lưu hàng hoá giữa người sản xuất kinh doanh với các cơ sở chế biến chè, từ đó hình thành nhiều mối quan hệ, thúc đẩy mạnh mẽ sự phát triển văn hoá mới ở nông thôn, tạo nên sự dân chủ trong cuộc sống (người mua và người bán nguyên liệu chè đều có quyền chi phối đối với hàng hoá của mình); mặt khác, nó có ảnh hưởng trực tiếp đời sống người dân và trên thực tế hiện nay, nhiều tỉnh đã xác định cây chè là cây xoá đói giảm nghèo, là cây làm giàu cho nông dân.
Nhìn chung, thị trường nguyên liệu chè nói riêng và kinh tế thị trường nói chung, bên cạnh những mặt tích cực cũng bộc lộ nhiều hạn chế như cạnh tranh không lành mạnh, phân hoá người sản xuất, băng hoại đạo đức vì mục tiêu lợi nhuận..., vì vậy, trong việc phát triển và hoàn thiện thị trường nguyên liệu chè phải sử dụng tổng hợp nhiều biện pháp để loại trừ những tác động xấu của thị trường, đảm bảo phát triển một thị trường đúng nghĩa, tạo điều kiện cho nền sản xuất hàng hoá lớn ra đời.
Đặc điểm của thị trường
Nói chung, cung chỉ việc chào bán hàng hoá hay dịch vụ nào đó, lượng của một mặt hàng được chào bán với một mức giá cả hiện hành. Đối với thị trường nguyên liệu, cung là sự đáp ứng mọi nhu cầu về nguyên liệu chè cho thị trường, nói một cách khác đi, đó là tổng số nguyên liệu có ở thị trường hoặc có khả năng thực tế cung cấp cho thị trường.
Như vậy, có sự phân biệt giữa sản phẩm nguyên liệu và sự cung ứng nguyên liệu, không phải sản phẩm chè búp tươi nào cũng được gọi là nguồn cung trên thị trường, nó chỉ trở thành cung nguyên liệu cho thị trường khi mà người sản xuất có khả năng thực tế cung cấp và sẵn sàng bán với một mức giá nào đó trên thị trường. Điều này cho thấy những sản phẩm sản xuất tự tiêu thụ hoặc sản xuất ra mà không đưa tới thị trường thì không nằm trong cung. Trên thực tế, có nhiều hộ gia đình sản xuất nguyên liệu chè nhưng tự tiêu dùng chứ không thực hiện trao đổi trên thị trường thông qua quan hệ hàng - tiền, mặc dù tỷ lệ này là không lớn.
Cung nguyên liệu chè thường không có tính mềm dẻo, linh hoạt: thị trường luôn biến động nhưng cung nguyên liệu chè thường không biến đổi tương ứng với sự biến đổi của cầu nguyên liệu. Vì một lý do nào đó mà cầu nguyên liệu chè tăng thì cung nguyên liệu chè không thể tăng tương ứng được trong cùng thời điểm. Khi giá cả tăng lên, người sản xuất không thể ngay lập tức tăng cung trên thị trường; sở dĩ như vậy là vì nó bị quy định bởi tính chất thời vụ của hàng nông sản và ngoài ra còn vì quy mô, sản lượng của sản xuất chè nguyên liệu bị giới hạn bởi yếu tố đất đai. Tuy nhiên, trong dài hạn, khả năng này có thể được điều chỉnh nếu khai hoang mở rộng quỹ đất hoặc tăng năng suất cho cây chè.
Độ co giãn của cung nguyên liệu thấp: với đặc trưng riêng của hàng nông sản, khi giá cả tăng cao, cung cũng không thể tăng ngay sản lượng mà phải đợi tới vụ thu hoạch tiếp theo. Như vậy, cung tăng nhưng chỉ là tăng trong phạm vi nhất định mà thôi. Đây là điểm nội trội của cung nguyên liệu chè đối với hàng hoá khác, đặc biệt là hàng công nghiệp.
Cung nguyên liệu chè không mang tính chu kỳ, nó mang tính liên tục trong cả năm và tương đối ổn định. Chè có thời gian cho sản phẩm dài (50 - 90 năm) và cần đầu tư ban đầu khá cao nên diện tích đất sử dụng cho trồng chè thường không thay đổi sang trồng loại cây khác. Mặt khác, trong sản xuất nguyên liệu chè, thu hoạch chiếm tới 10 tháng, vì vậy, nguồn cung nguyên liệu chè thường ổn định và liên tục trong cả năm chứ không có tính thời vụ rõ nét như những nông sản khác.
Quy mô của cung về nguyên liệu cho công nghiệp chế biến chè phụ thuộc vào nhiều yếu tố, trong đó giá cả được coi là một trong những yếu tố quan trọng nhất. Cung tỷ lệ thuận với giá. Trên thị trường nguyên liệu, cũng như mọi thị trường nói chung, khối lượng hàng hoá nguyên liệu tăng khi giá cả tăng. Sở dĩ như vậy là bởi khi giá cả nguyên liệu tăng dẫn tới lợi nhuận tăng, đây là động lực thúc đẩy sự tăng cung của thị trường nguyên liệu (quá trình này cũng đồng thời là quá trình mà thị trường thực hiện chức năng kích thích sản xuất và tiêu dùng của mình).
Thành tựu của KH - CN và trình độ chuyên môn hoá.
Đây là nhân tố ảnh hưởng một cách trực tiếp đến cung nguyên liệu§, mức độ áp dụng KH - CN hiện đại càng cao bao nhiêu càng tạo ra nguồn nguyên liệu có giá trị sử dụng tốt bấy nhiêu. Đồng thời, theo quy luật giá trị, lượng giá trị tỷ lệ nghịch với năng suất lao động, khi áp dụng khoa học - công nghệ hiện đại vào sản xuất dẫn tới năng suất lao động tăng lên, lượng giá trị giảm, chi phí lao động cá biệt giảm khiến giá thành của nguyên liệu giảm làm tăng khả năng cạnh tranh của chúng trên thị trường và do đó, mức cung về nguyên liệu sẽ tăng tương ứng.
Mặt khác, trong sản xuất nói chung, sản xuất nguyên liệu chè nói riêng, tính chuyên môn hoá càng sâu càng thúc đẩy mạnh mẽ phát triển lực lượng sản xuất và tăng năng suất lao động. Ngoài ra, với đặc thù sản xuất nông nghiệp, việc chuyên môn hoá sản xuất còn tạo điều kiện cho người sản xuất đúc kết kinh nghiệm đối phó với những thay đổi của các tác động ngoại cảnh như thời tiết, dịch bệnh; hạn chế những tổn thất do dịch bệnh gây ra, góp phần tăng năng suất lao động và sản lượng nông sản dẫn tới tăng cung cho thị trường nguyên liệu mà không cần tăng các yếu tố đầu vào.
Nhu cầu có khả năng thanh toán của các cơ sở chế biến
Nhu cầu có khả năng thanh toán về nguyên liệu chè sẽ tác động trực tiếp đến cung. Khối lượng tiền để chi trả, thoả mãn nhu cầu về nguyên liệu chè trên thị trường nguyên liệu sẽ tác động đồng thời đến số lượng bán hàng thực tế. Đó sẽ là mối quan hệ tỷ lệ thuận, cung nguyên liệu trên thị trường tăng khi cầu tăng và ngược lại.
Ngoài raN, cung nguyên liệu chè sẽ tăng khi số lượng người tham gia sản xuất chè nguyên liệu nhiều. Tất nhiên, mức tăng đó yêu cầu ở một giới hạn nào đó; nếu số người sản xuất tăng vượt ngưỡng sẽ dẫn tới cung về nguyên liệu chè vượt quá cầu, lúc này sẽ xảy ra tình trạng ế thừa cung. Nếu tình trạng ế thừa kéo dài, sản xuất sẽ bị ngưng trệ, cung nguyên liệu chè sẽ giảm do người sản xuất phải ngừng sản xuất hoặc chuyển hướng đầu tư.
Các yếu tố sản xuất và những kỳ vọng:
Các yếu tố sản xuất được chia thành ba nhóm cơ bản là lao động, đất đai và vốn. Giá các yếu tố đầu vào này ảnh hưởng trực tiếp tới cung nguyên liệu chè. Khi chi phí sản xuất thấp hơn giá thị trường thì đồng nghĩa với việc lợi nhuận của người sản xuất tăng lên, điều này kích thích người sản xuất tiếp tục mở rộng sản xuất, tức là cung về chè nguyên liệu tăng lên. Ngược lại, cung sẽ giảm do sản xuất bị thu hẹp khi giá các yếu tố đầu vào cao hơn giá thị trường.
Ngoài ra, sự kỳ vọng của người cung cấp chè nguyên liệu cũng ảnh hưởng tới mức cung trên thị trường. Kỳ vọng về sự giảm xuống của chi phí sản xuất, kỳ vọng về giá cả trong tương lai, sự tăng lên về giá cả nguyên liệu chè bán ra hay sự thay đổi tích cực về chính sách liên quan của các cấp đối với họ cũng ảnh hưởng quan trọng tới các quyết định cung cấp nguyên liệu chè trên thị trường.
Chính sách của Nhà nước và chính quyền địa phương:
Sự quan tâm của Chính phủ về môi trường và sức khoẻ người dân sẽ quyết định xem sử dụng công nghệ nào trong sản xuất. Cung của thị truờng nguyên liệu chè được mở rộng nếu quốc gia hoặc địa phương chủ quản đó chú trọng và có chính sách khuyến khích phát triển. Ngược lại, cung thị trường chè bị thu hẹp nếu không được chú ý tới. Các chính sách của mỗi quốc gia hay địa phương thường gồm những chính sách như chính sách về nguồn nhân lực, chính sách về khoa học - công nghệ, chính sách đất đai, chính sách về vốn, khai thác và bảo vệ tài nguyên môi trường; chính sách khuyến khích vận động tham gia các thành phần kinh tế tham gia sản xuất chè nguyên liệu phục vụ cho công nghiệp chế biến.
Các sự kiện khách quan mang tính bất thường: nguyên liệu chè là sản phẩm của nông nghiệp nên chịu ảnh hưởng rất lớn của những sự kiện khách quan này. Các thay đổi về thời tiết, thiên tai... đều có ảnh huởng trực tiếp tới nguồn cung của nguyên liệu chè trên thị trường. Ngoài ra, nguồn cung nguyên liệu chè còn chịu ảnh hưởng của điều kiện thổ nhưỡng (vì nông nghiệp là ngành duy nhất sử dụng đất đai như một yếu tố đầu vào chủ yếu mà không thể thay thế), giống cây..., những yếu tố này thuận lợi sẽ làm tăng nguồn cung và ngược lại.
Đặc điểm cầu về nguyên liệu chè:
ở bất kỳ thời đại nào, không phân biệt độ tuổi, giới tính, giai cấp, nhu cầu của con người là vô tận về cả vật chất và tinh thần, song không phải mọi mong muốn và nguyện vọng đó đều được thoả mãn vì nó bị hạn chế bởi khả năng chi trả. Những mong muốn và nguyện vọng đó, trong kinh tế chính trị, được gọi là nhu cầu; và tất cả những nhu cầu có khả năng thanh toán được gọi là cầu. Có cầu về những mặt hàng thiết yếu trong cuộc sống và cầu nâng cao.
Cầu nguyên liệu chè là một phạm trù kinh tế biểu hiện nhu cầu về chè nguyên liệu được đảm bảo bằng khối lượng tiền tệ với giá cả nhất định. Nói một cách khác đi, cầu nguyên liệu chè là nhu cầu có khả năng thanh toán của những cơ sở chế biến, nó là một phần nhu cầu của xã hội. Có thể có rất nhiều nhu cầu về nguyên liệu chè, nhưng nếu không có sự đảm bảo bằng tiền, nghĩa là không có khả năng thanh toán nhằm biến chúng thành hàng hoá nguyên liệu với giá cả nhất định thì cũng không thể xuất hiện “cầu”. Nhìn chung, trong sản xuất hàng hoá, trong thị trường bất kỳ và thị trường nguyên liệu chè nói chung, nhu cầu luôn xuất hiện trước cầu; cầu sẽ không thể tồn tại nếu không có một nhu cầu xác định.
Quá trình sản xuất của cải vật chất của con người nhằm thoả mãn những nhu cầu đầu tiên cấp thấp của mình đã dần dần được nâng lên về mức độ. Ngày nay, bằng kinh nghiệm và với sự phát triển của khoa học - công nghệ, người ta đã chứng minh được tính hữu ích của chè uống trong việc bảo vệ sức khoẻ con người, từ đó, người tiêu dùng đã lựa chọn chè làm thứ uống để bảo vệ sức khoẻ. Việt Nam, với phong tục tập quán từ lâu đời, khách đến nhà thường được mời trà; trước kia, khi công nghịêp chế biến chưa phát triển, người dân thường sử dụng lá chè tươi đun nước uống. Ngày nay, với việc áp dụng công nghiệp chế biến vào sản xuất chè, trên thị trường chè đã có nhiều sự lựa chọn cho người tiêu dùng, và chè uống đã trở thành nhu cầu thiết yếu. Kết quả điều tra của Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam cho thấy: 96% số người được hỏi cho biết bản thân họ hoặc trong gia đình họ có người uống chè.
“Theo lý thuyết về thứ bậc nhu cầu của AH.Maslow thì sau khi thoả mãn các nhu cầu thấp cấp, các khoản chi tiêu tiếp theo của các hộ dân cư cho việc thoả mãn các nhu cầu cấp cao sẽ cao hơn mức chi tiêu trung bình. Dựa trên cơ sở ước tính một mức độ thoả mãn nhất định, chi tiêu của hộ dân cư cho mức tiếp theo bắt đầu tăng nhanh. Theo luật Engel: Độ co dãn của cầu về thức ăn với thu nhập thường nhỏ hơn 1, tức là cầu có độ co dãn thấp. Khi một hộ nghèo thì tỷ lệ trên thu nhập mà hộ đó dành cho việc mua lương thực càng lớn”. Qua nghiên cứu, người ta nhận thấy sự tồn tại một bảng thứ bậc về các nhu cầu lần lượt theo các thứ tự từ thức ăn, đồ uống, nhà ở, trang phục, hàng tiêu dùng và tiếp đến là các dịch vụ. Như vậy, chè uống là một trong những đồ uống thiết yếu.
Cầu về nguyên liệu chè là khối lượng chè nguyên liệu mà các cơ sở chế biến cần mua và có khả năng thanh toán với một mức giá nhất định ở một thời điểm xác định trên thị trường.
Đặc điểm của cầu nguyên liệu chè: Giá trị hệ số cơ động của cầu nguyên liệu chè tương đối nhỏ. Cầu về chè uống là cầu thiết yếu, lại không phải là cầu cao cấp nên giá trị hệ số cơ động của cầu chè nguyên liệu không cao. Trong nhu cầu tiêu dùng chè, người tiêu dùng thường ít thay đổi cầu này bằng những hàng hoá thay thế khác. Tất nhiên, cầu về sản phẩm chè không phải là cầu bắt buộc song nó là một trong những hàng hoá phù hợp với khả năng chi trả, có lợi ích về sức khoẻ cho người tiêu dùng. ở góc độ nào đó, chè uống còn là sản phẩm không thể thay thế với nhiều người tiêu dùng.
Cầu nguyên liệu chè thường gần nguồn cung. Với đặc thù là sản phẩm của nông nghiệp, với tính chất tươi sống, cầu nguyên liệu thường không cách xa nguồn cung cả về mặt không gian và thời gian. Thu hoạch theo mùa vụ, với khối lượng nguyên liệu lớn trong khi nhu cầu tiêu dùng ngay của người dân rất thấp, việc tiêu thụ và vận chuyển nguyên liệu sau khi thu hái là một yêu cầu bắt buộc. Vì vậy, cho nên, cầu nguyên liệu chè thường ở rất gần nguồn cung cả về mặt địa lý, không gian cũng như thời gian.
Cầu nguyên liệu chè mang tính chất thường xuyên. Cầu về chè uống mang tính cố định trong suốt cả năm, thường chỉ tăng lên đột biến vào dịp lễ tết, vì vậy, cầu nguyên liệu chè cũng mang tính chất thường xuyên.
Nguyên liệu chè là yếu tố sản xuất đầu vào, vì vậy, cầu về nguyên liệu chè là cầu thứ phát; khác với cầu thông thường, cầu đối với các yếu tố sản xuất phụ thuộc vào mục tiêu của doanh nghiệp, cụ thể ở đây là doanh nghiệp chế biến chè. Với mục tiêu là tối đa hoá lợi nhuận, các doanh nghiệp chế biến chè dựa vào cầu của người tiêu dùng đối với hàng hoá chè trên thị trường để tính toán mức cầu đối với các yếu tố sản xuất nhằm đạt được mục tiêu lợi nhuận tối đa. Vậy, quy mô cầu nguyên liệu trên thị trường chịu ảnh hưởng của những nhân tố nào?
- Những nhân tố ảnh hưởng tới quy mô cầu nguyên liệu của công nghiệp chế biến chè:
Thị trường nguyên liệu chè là thị trường phái sinh, thị trường này không thể phát triển nếu thiếu ngành công nghiệp chế biến chè. Hơn nữa, nguyên liệu chè có giá trị sử dụng rất ngắn ngày nếu không được bảo quản, chế biến bởi đây là loại nông sản thu hoạch theo mùa vụ, sau khi thu hoạch lại phải chế biến ngay. Để tránh gây thiệt hại cho người sản xuất và giữ nguyên giá trị sử dụng, chè nguyên liệu cần được tiêu thụ hết trong thời gian nhất định bằng sự phát triển của CNCB nhằm bảo quản, dự trữ và chế biến chè thành nhiều sản phẩm đa dạng khác. Như vậy, CNCB chè cũng ảnh hưởng tới cầu nguyên liệu chè. CNCB càng phát triển, mở rộng và đa dạng bao nhiêu thì cầu chè nguyên liệu càng lớn bấy nhiêu.
Giá cả và thu nhập: giá cả là một trong những yếu tố ảnh hưởng trực tiếp tới cầu nguyên liệu chè. Thường thường, cầu về nguyên liệu chè có thay đổi tỷ lệ nghịch với sự thay đổi của giá cả. Nếu giá cả nguyên liệu tăng thì khối lượng cầu trong thị trường nguyên liệu chè sẽ giảm xuống và ngược lại, giá cả nguyên liệu giảm thì khối lượng cầu sẽ tăng. Tuy nhiên, trong một số thời điểm đặc biệt, có thể giá cả nguyên liệu tăng nhưng cầu nguyên liệu vẫn tăng, ví dụ như vào những dịp lễ tết hoặc mùa cưới, vào những thời điểm này, giá nguyên liệu thường tăng song cầu nguyên liệu không vì thế mà giảm đi.
Thu nhập của dân cư và người tiêu dùng cũng là một trong những yếu tố ảnh hưởng gián tiếp tới cầu nguyên liệu. Nếu những nhu cầu cấp cao chỉ có được khi thu nhập của dân cư hoặc của người tiêu dùng tăng tới một mức độ nhất định nào đó thì cầu thiết yếu không chịu nhiều ảnh hưởng như vậy song xét ở mặt nào đó, thu nhập vẫn là yếu tố ảnh hưởng tới cầu. Thu nhập của người tiêu dùng tăng kéo theo sự tăng của cầu dùng chè thành phẩm, nhất là những thành phẩm có thương hiệu và có thể phục vụ mục đích bảo vệ sức khoẻ. Khi cầu chè thành phẩm tăng, các cơ sở sản xuất chế biến cũng sẽ tăng cầu về nguyên liệu chè. Như vậy, thu nhập của người tiêu dùng ảnh hưởng một cách gián tiếp tới cầu nguyên liệu chè. Khi thu nhập của dân cư tăng kéo theo sự tăng lên về cầu chè thành phẩm, đương nhiên, cầu nguyên liệu chè phục vụ cho công nghiệp chế biến chè cũng tăng tương ứng .
Quy mô tiêu dùng của dân cư: cầu trên thị trường nguyên liệu tăng khi quy mô tiêu dùng của dân cư mở rộng. Là thức uống thiết yếu song sản phẩm thay thế lại nhiều nên cầu về nguyên liệu chè có thể thu hẹp nếu vì lý do nào đó mà người tiêu dùng thu hẹp quy mô và sử dụng các sản phẩm thay thế.
Thị hiếu người tiêu dùng, thói quen, các kỳ vọng: Chè là thức uống bổ dưỡng đối với người tiêu dùng nước ngoài và còn có tính truyền thống đối với dân cư Việt Nam. Thị hiếu người tiêu dùng trong và ngoài nước làm ảnh hưởng tới cầu nguyên liệu chè trên thị trường nguyên liệu, nếu sản phẩm chè được ưa chuộng, hợp thị hiếu người tiêu dùng sẽ làm tăng cầu nguyên liệu chè. Ngoài ra, các kỳ vọng cũng là yếu tố ảnh hưởng đến cầu nguyên liệu chè, việc kỳ vọng vào sự thay đổi của giá cả sẽ làm tăng cầu nguyên liệu chè trên thị trường nguyên liệu.
Dân cư, thời tiết, bản sắc văn hoá: Là lực lượng tham gia vào tất cả các hoạt động kinh tế - xã hội, ở các mức độ khác nhau, với độ tuổi khác nhau nên quá trình tham gia vào các giai đoạn của quá trình tái sản xuất cũng là khác nhau, toàn bộ dân cư của một vùng hay một quốc gia đều tham gia tiêu dùng. Các yếu tố dân cư như số dân, giới tính, thành phần dân tộc, đặc điểm nhân khẩu... cũng có ảnh hưởng tới cầu nguyên liệu, sở dĩ như vậy là vì các yếu tố này ảnh hưởng tới cầu chè thành phẩm, và cầu về nguyên liệu thường phụ thuộc vào cầu chè thành phẩm.
Thời tiết, bản sắc văn hoá cũng ảnh hưởng tới cầu nguyên liệu. Chè là thức uống cần thiết và cầu chè thường tăng lên khi không phải là mùa hạ trong năm. Đặc biệt, khi vào dịp lễ tết, với bản sắc văn hoá riêng, người Việt Nam thường có thói quen dùng chè làm quà biếu chúc tết để tỏ lòng kính trọng với người cao tuổi, người thân. Chính những thói quen, phong tục tập quán này đã trở thành một nét bản sắc văn hoá và nó có ảnh hưởng trực tiếp tới cầu nguyên liệu chè.
Cơ chế tương tác giữa cung và cầu nguyên liệu chè
Có thể nói, thị trường nguyên liệu là nơi gặp nhau giữa cung và cầu. Mặc dù có những đặc trưng riêng song thị trường nguyên liệu chè cũng là một bộ phận của thị trường hàng hoá, vì vậy, thị trường nguyên liệu chè được hiểu như là tổng thể của tất cả những mối quan hệ kinh tế mà mối quan hệ kinh tế đó được hình thành giữa những người sản xuất chè nguyên liệu và những người sử dụng nguồn nguyên liệu đó phục vụ cho công nghiệp chế biến chè. Trong sự “gặp gỡ” này, theo lý luận giá trị của Mác, lao động xã hội hao phí để sản xuất ra hàng hoá nguyên liệu chè đó là hao phí lao động xã hội cần thiết mà xã hội đã công nhận biểu hiện qua sự tương tác giữa cung và cầu thông qua mức giá cả trên thị trường.
ở thị trường nguyên liệu chè, có hai bên đối lập nhau nhưng gắn kết chặt chẽ với nhau, phụ thuộc vào nhau: đó là bên cầu và bên cung. Thị trường nguyên liệu chè chỉ hình thành khi có đủ khả năng kinh tế của bên cung và bên cầu. Nhu cầu có khả năng thanh toán của bên mua hình thành cầu về nguyên liệu chè trên thị trường. Trong khi đó, ở phía cung, với khả năng đủ sức cung cấp khối lượng nguyên liệu chè cho thị trường bên cạnh sự kích thích của cầu sẽ tạo ra khả năng cung ứng nguyên liệu chè cho thị trường nguyên liệu chè với những nguồn nguyên liệu ngày càng nhiều, đa dạng cả về chất lượng và số lượng.
Trong khả năng cung hàng hoá nguyên liệu chè trên thị trường, giá cả thị trường của hàng hoá nguyên liệu chè cao tức là xã hội đánh giá lớn lượng hao phí lao động cá biệt của người sản xuất nguyên liệu chè và ngược lại, giá cả hàng hoá chè nguyên liệu thấp cho thấy xã hội đánh giá nhỏ lượng lao động cá biệt đã hao phí. Thông thường, giá cả thị trường của hàng hoá chè nguyên liệu cao khi tổng lượng cầu cao. Lý luận lợi nhuận bình quân của Mác đã chỉ rõ, với cùng một lượng tư bản đầu tư như nhau nếu đầu tư vào ngành nào có lợi nhuận cao hơn thì lập tức sẽ diễn ra sự di chuyển tư bản vào ngành đó. Trong trường hợp này cũng vậy, với lượng tư bản đầu tư ban đầu là như nhau mà đầu tư vào sản xuất nguyên liệu chè thu được lợi nhuận cao hơn, nói khác đi, tỷ suất lợi nhuận trong ngành này cao hơn tỷ suất lợi nhuận bình quân thì việc di chuyển tư liệu sản xuất và lao động vào sản xuất nguyên liệu là tất yếu. Có điều, với đặc thù riêng của hàng hoá nguyên liệu chè, nguồn nguyên liệu chỉ có thể được trồng ở những nơi có điều kiện thổ nhưỡng, đất đai phù hợp nên việc di chuyển tư bản một cách tự do gặp khó khăn.
Nói chung, dù có đặc trưng riêng, song thị trường nguyên liệu chè vẫn không nằm ngoài quy luật của thị trường nói chung: cung nguyên liệu chè sẽ vượt xa cầu nguyên liệu chè nếu người sản xuất nguyên liệu tăng cao, điều này khiến giá cả sẽ giảm; tới mức nào đó việc xảy ra khủng hoảng thừa là tất nhiên, sản xuất nguyên liệu chè sẽ bị đình đốn, những người sản xuất buộc phải chuyển hướng đầu tư sang lĩnh vực khác hoặc chịu phá sản, dẫn đến cung nguyên liệu chè lại giảm. Khi giá trị thị trường của chè nguyên liệu tăng, bên cung (người bán) sẽ được lợi và ngược lại, nếu giá trị thị trường của nguyên liệu chè giảm, khả năng kinh tế của bên cầu (bên mua) sẽ tăng lên. Đồng thời, khi giá cả thị trường của chè nguyên liệu giảm thì giá cả chè thành phẩm sẽ giảm xuống, cầu về chè thành phẩm của người tiêu dùng sẽ cao hơn, công nghiệp chế biến chè sẽ mở rộng quy mô sản xuất để đáp ứng nhu cầu của xã hội. Khi đó, nhu cầu về chè nguyên liệu lại tăng lên, làm cho giá cả thị truờng của chè nguyên liệu lại tăng lên, kích thích người trồng chè mở rộng sản xuất dẫn đến tăng mức cung nguyên liệu chè.
Trên thị trường nguyên liệu chè, như những thị trường thông thường, có sự cạnh tranh giữa người bán với người bán, người mua với người mua; nếu diễn ra loại cạnh tranh đầu tiên, người mua nguyên liệu chè sẽ là người được lợi, và nếu là trường hợp cạnh tranh thứ hai thì lợi lại thuộc về phía người bán. Tuy vậy, thị trường, dưới sự tác động của các quy luật, mức cân bằng sẽ được điều chỉnh và thiết lập đối với các trạng thái cạnh tranh trên.
Những đặc điểm chủ yếu của thị trường nguyên liệu chè như sau: Thứ nhất, so với thị trường hàng hoá nói chung, thị trường nguyên liệu chè xuất hiện muộn hơn, cụ thể là khi có nhu cầu về sản xuất chè mới có thị trường này. Nói một cách khác đi, đây là thị trường phái sinh. Nó khác với thị trường hàng hoá thông thường, ở đây, các doanh nghiệp đóng vai trò là người mua (cầu), còn các hộ gia đình, nguời trồng chè nguyên liệu đóng vai trò là người cung cấp (cung).
Thứ hai, thị trường nguyên liệu chè mang tính thời vụ và tính khu vực rất rõ rệt. Chè là sản phẩm của ngành sản xuất nông nghiệp, vì vậy, chè phụ thuộc rất lớn vào những yếu tố tự nhiên như đất đai, điều kiện khí hậu, thổ nhưỡng..., quy mô và sản lượng của thị trường nguyên liệu chè thường xuyên biến động theo mùa vụ thu hoạch trong năm. Với những đặc điểm riêng về điều kiện thổ nhưỡng, khí hậu, đất đai, nguồn nước..., mỗi vùng đều có lợi thế riêng trong việc hình thành thường nguyên liệu vì thị trường này bao giờ cũng gắn với nơi sản xuất do tính chất tươi sống của nông sản chè. Tuy nhiên, gắn với các nội dung cuộc cách mạng KH–CN hiện đạiC, trong đó có nội dung về công nghệ sinh học thì hiện nay, người ta đã có thể trồng được những sản phẩm đặc sản ở nhiều vùng song hương vị riêng đặc trưng gắn với quê hương thì không thể thay thế.
Thứ ba, giá cả trên thị trường nguyên liệu chè không mang tính ổn định. Do tính chất thời vụ của cây chè nên giá cả nguyên liệu dao động nhiều so với các loại hàng hoá khác. Đầu mùa vụ, giá cả nguyên liệu bao giờ cũng cao và giảm dần khi đến chính vụ, và vào cuối vụ, do lượng cung giảm nên giá nguyên liệu lại có chiều hướng tăng cao. Hơn nữa, vì phụ thuộc vào điều kiện khí hậu, tự nhiên nên những năm thời tiết không ổn định cũng gây biến động đối với giá cả nguyên liệu.
Thứ tư, độ co giãn của cung–cầu trong thị trường nguyên liệu chè thấpc, nói một cách khác đi, trong thị trường nguyên liệu chè, mức độ phản ứng của cung hoặc cầu đối với sự thay đổi của giá cả là không đáng kể. Như đã nói, sản xuất chè nguyên liệu mang tính mùa vụ rất rõ rệt, và vì vậy, khi vào đúng mùa vụ, do tính chất riêng của nguyên liệu chè (chè búp tươi sau thu hái phải chế biến ngay trong vòng 10 giờ), người sản xuất buộc phải bán hết ra thị trường dù giá cả trên thị trường khi đó là cao hay thấp. Điều này dẫn đến hiện tượng là cùng trong một khoảng thời gian, tất cả chè nguyên liệu được mang bán ra thị trường dẫn đến cung vượt cầu rất lớn làm giá cả giảm mạnh, thậm chí có lúc giá cả thấp hơn chi phí rất nhiều khiến người sản xuất lỗ vốn. Hoặc ngược lại, những khi không đúng mùa vụ nhưng nhu cầu tiêu dùng vẫn không giảm, cung về nguyên liệu chè thấp hơn cầu làm giá cả tăng cao thì người sản xuất cũng không thể tăng cung tương ứng để thu lợi nhuận cao.
Mặt khác, thị trường nguyên liệu chè không có độ co dãn lớn. Vì số lượng người trồng chè cũng như đất đai dành cho trồng chè thường biến động ở mức không cao, hơn nữa, đối với sản phẩm chè, nguyên liệu chè là nguyên liệu chính, chủ yếu không thể thiếu và không thể thay thế nên các cơ sở chế biến gần như khó dịch chuyển từ thị trường nguyên liệu chè sang thị trường khác.
Thứ năm, tính độc quyền trong thị trường nguyên liệu chè không cao. Sở dĩ có đặc trưng này là do trong thị trường nguyên liệu, mỗi người sản xuất không có ảnh hưởng lớn tới thị trường nguyên liệu, việc họ tham gia hay không tham gia sản xuất nguyên liệu không quyết định mức giá cả trên thị trường do họ không thể độc quyền lượng cung.
Thứ sáu, quan hệ cung - cầu trên thị trường nguyên liệu luôn biến động cùng sự biến động của thời vụ sản xuất kinh doanh. So với các thị trường hàng hoá nói chung, thị trường nguyên liệu chè gắn chặt với kinh tế nông nghiệp nên cũng thường xuyên biến động dẫn tới sự vận động quan hệ cung–cầu của thị trường nguyên liệu cũng thay đổi theo thời vụ sản xuất. Ngoài rac, thời tiết cũng là một trong những yếu tố tác động trực tiếp tới kết quả sản xuất của nông dân và ảnh hưởng tới cung–cầu nguyên liệu trên thị trường. Khi thời tiết, khí hậu thuận lợi thì cung về nguyên liệu chè tương đối ổn định và ngược lại.
|