 |
| Tham gia BHCS, nông dân sẽ bớt lo khi thời tiết bất thường xảy ra. |
KTNT - Một trong những loại hình đang được hướng tới để phát triển bảo hiểm nông nghiệp (BHNN) ở nước ta là bảo hiểm theo nhiệt độ. Thực chất đây là một nhánh nhỏ trong loại hình bảo hiểm theo chỉ số (BHCS) được một số quốc gia trên thế giới áp dụng từ khoảng đầu những năm 1990. Nó đã nhanh chóng được nhân rộng và trở thành hình thức bảo hiểm "đắt khách".
>>Bài 3: Vài nét về một mô hình mới
Còn nhiều rào cản
Nhiều ý kiến cho rằng, BHNN ở Việt Nam gần như chỉ tồn tại trên danh nghĩa, nhưng thực ra các nhà quản lý, thậm chí cả các nhà kinh tế đã quan tâm đến loại hình BHCS từ lâu. Song, để vận dụng vào cuộc sống sản xuất của người nông dân thì cần phải nghiên cứu kỹ lưỡng, theo dõi hiện tượng tự nhiên một cách kiên trì để xác định chu kỳ chính xác. Từ năm 2005, Bộ Tài chính đã hợp tác cùng Ngân hàng Phát triển châu á (ADB) nghiên cứu tác động của mực nước đối với thiệt hại của người dân trồng lúa khu vực Đồng Tháp Mười. Theo số liệu tổng kết đưa ra, nếu mực nước ở đập Tân Châu lên 2,5m thì nông dân hai huyện Hồng Ngự và Tam Nông (Đồng Tháp) thiệt hại khoảng 50.000ha lúa và 60% cây trồng.
Đó là chương trình nghiên cứu cụ thể nhất của các cơ quan chức năng đối với việc đưa BHCS vào hiện thực Việt Nam. Tuy nhiên, vẫn còn nhiều ý kiến trái chiều xung quanh loại hình bảo hiểm này.
|
BHCS đang áp dụng ở một số nước
Những rủi ro thời tiết mà con người không kiểm soát được; một số loại cây trồng ở các vùng chuyên canh; chia các vùng chuyên canh từng loại cây trồng thành những vùng nhỏ tạm gọi là tiểu vùng sinh thái, có điều kiện tự nhiên tương đối giống nhau, tức là mức độ rủi ro gần như nhau khi có thiệt hại.
Số tiền bồi thường = số hecta được bảo hiểm x số tiền bảo hiểm x tỷ lệ bồi thường. | Theo ông Hoàng Xuân Điều, Trưởng phòng Bảo hiểm xe cơ giới kiêm Phó trưởng phòng Bảo hiểm nông nghiệp (Tập đoàn Bảo hiểm Việt Nam - Bảo Việt), Bảo Việt sẽ lựa chọn hình thức kinh doanh mới này. Tuy nhiên, bước đầu Bảo Việt không trực tiếp gặp gỡ khách hàng mà thông qua các ngân hàng, tổ chức tín dụng... Sự liên kết giữa Bảo Việt với các đơn vị này sẽ đặt ra trong điều khoản vay vốn khi nông dân tới vay tiền, đồng thời phải mua bảo hiểm. Hình thức đó được xem như có lợi cho tất cả các bên, khi rủi ro xảy đến với sản phẩm nông nghiệp của nông dân, ngân hàng sẽ không bị thiệt hại, Nhà nước và xã hội không phải cứu trợ, nông dân vẫn được bồi thường. Còn nếu may mắn không có rủi ro thì dĩ nhiên công ty bảo hiểm có lợi.
Một quan chức kỳ cựu trong lĩnh vực bảo hiểm, ông Phùng Đắc Lộc, Tổng thư ký Hiệp hội Bảo hiểm Việt Nam lại cho rằng, hiện nay rất khó để hình thức BHCS đi vào thực tế bởi lý do: môi trường pháp lý chưa ổn định và thiếu tính minh bạch, khiến các doanh nghiệp bảo hiểm còn e ngại.
Đồng quan điểm với ông Lộc, ông Nguyễn Thành Nam, Giám đốc Ban Tái bảo hiểm (Tổng công ty cổ phần bảo hiểm Bảo Minh), cũng rất quan ngại vấn đề luật pháp chưa rõ ràng để điều chỉnh những khả năng có thể xảy ra trong lĩnh vực này. Theo ông Nam, nếu loại hình BHCS được triển khai ở Việt Nam thì Bảo Minh sẽ là một trong những doanh nghiệp đầu tiên cung cấp dịch vụ này, nhưng cho tới nay vẫn chưa lường hết những khía cạnh pháp lý và những khúc mắc khi bắt đầu triển khai. "Chính vì thế, doanh nghiệp cần có sự hỗ trợ của các cơ quan hữu quan" - ông Nam khẳng định.
Một ý kiến khác của chuyên gia về BHNN, ông Jerry Skees, Trưởng đoàn chuyên gia Dự án phát triển BHNN của ADB tại Việt Nam khẳng định, tài chính là một vấn đề lớn đối với BHCS ở Việt Nam. Với các nước phát triển như Canada, Mỹ, Tây Ban Nha, con số tài trợ từ các nguồn tài chính công chiếm 40% số tiền chi trả cho thiệt hại. Tuy nhiên, Giám đốc nhóm nghiên cứu BHCS Đào Hùng lại cho rằng: “Nếu Nhà nước hỗ trợ chi phí bảo hiểm sẽ làm méo mó thị trường tài chính. Bởi hỗ trợ được chi phí BHNN thì cũng có thể hỗ trợ mua bảo hiểm y tế, bảo hiểm thân thể...”. Chính điều này trở thành rào cản lớn ngăn các doanh nghiệp tiếp cận thị trường.
Thực tế khi triển khai
Mặc dù vẫn quyết tâm cung cấp dịch vụ nhưng ông Nguyễn Thành Nam vẫn rất lo ngại khi triển khai BHCS. Theo số liệu mà Bảo Minh có được, ở vùng Đồng Tháp Mười, cứ 7 năm mới có lũ lớn một lần, tuy nhiên thời gian gần đây diễn biến thời tiết rất khó lường nên chu kỳ bão lũ có thể đến sớm hơn hoặc cường độ dữ dội hơn so với con số thống kê. Bởi vậy, Bảo Minh cần phải nghiên cứu thêm ngay cả khi dự án đã đi vào thực tế để đánh giá chính xác tổn thất của nông dân cũng như khả năng chi trả của doanh nghiệp. Từ đó, ông Thomas Lostes, đại diện Tổ chức phi lợi nhuận Munich Re Foundation (Tập đoàn tái bảo hiểm Munich Re – tập đoàn nổi tiếng thế giới của Đức) khuyến nghị: Các doanh nghiệp nên lập một “tổ khí tượng” chuyên nghiên cứu những diễn biến khí hậu có tính lịch sử và dự báo thời tiết một cách chính xác để cố vấn cho đồng nghiệp nên xây dựng mức khung chuẩn phù hợp. Mức độ chi trả nên tính trên cơ sở năng suất bình quân nhiều năm chung của cả vùng hay tiểu vùng sinh thái.
|
Các nhà khoa học thuộc Trung tâm Nông nghiệp nhiệt đới quốc tế (CIAT) có một cách đưa nông dân tiếp cận BHCS rất hiệu quả, đó là vận động nông dân tham gia hội thảo, sau đó làm mẫu và giả lập các tình huống khác nhau để người dân nhận thức được lợi ích từ việc tham gia BHCS. | Hiện tại, các doanh nghiệp bảo hiểm đã nhận được rất nhiều sự ủng hộ từ Bộ Tài chính, Trung tâm Khí tượng Thủy văn, ngân hàng ADB và các cơ quan hữu quan khác, song những điều đó dường như chưa đủ thuận lợi. Bởi loại hình BHCS có đặc trưng riêng là tính rủi ro đồng nhất, có tính tích tụ và hàng loạt, tức là doanh nghiệp phải lường trước khả năng chi trả rất lớn, trên diện rộng nếu có thiệt hại do yếu tố thiên nhiên. Đây là vấn đề các doanh nghiệp lo ngại nhất.
“Chúng tôi không biết liệu phương thức chi trả BHCS có được Bộ Tài chính cho phép triển khai hay không. Theo hình thức chi trả vẫn thường sử dụng, doanh nghiệp căn cứ vào kết quả giám định độc lập, từ đó sẽ đưa ra con số. Nhưng ở hình thức này, doanh nghiệp không căn cứ vào tổn thất thực tế mà dựa hoàn toàn vào thông số do thiên nhiên đặt ra để bồi thường. Như vậy trái với quy tắc phải có thiệt hại mới tiến hành bồi thường. Đó là chưa kể nhiều người mua bảo hiểm và cho rằng mình có quyền thu về càng nhiều càng tốt sau khi đã đóng bảo hiểm, hoặc chỉ bảo hiểm những gì chắc chắn hoặc gần chắc chắn sẽ tổn thất như những mảnh ruộng ngập úng hay dễ bị hạn hán nhất” - ông Nam băn khoăn.
Các chuyên gia khẳng định, nếu loại hình bảo hiểm này được triển khai, các doanh nghiệp sẽ tiết kiệm được khá nhiều cả về kinh tế, thời gian và nhân lực bởi chi phí quản lý thấp do không cần khai thác bảo hiểm riêng của từng cá thể, không cần giám định tổn thất. Đồng thời mức bồi thường rất dễ xác định, khách quan và không bị chi phối bởi yếu tố cá nhân. Đối với người tham gia bảo hiểm, quyền lợi được đảm bảo nhanh chóng, minh bạch. Họ chỉ cần nghe dự báo thời tiết, hoặc qua báo cáo của Trung tâm Khí tượng Thủy văn để biết mức độ thay đổi của nhiệt độ, mực nước... xem liệu có vượt quá mức chuẩn trong hợp đồng rồi trực tiếp tới công ty bảo hiểm yêu cầu bồi thường mà không cần quan tâm trên thực tế mình có bị thiệt hại hay không.
Tuy nhiên, phạm vi bảo hiểm bị hạn chế tương đối lớn (ví dụ, nếu người mua bảo hiểm chỉ sử dụng loại hình bảo hiểm theo nhiệt độ, nếu nhiệt độ không thay đổi đến mức phải bồi thường nhưng mưa nhiều khiến thiệt hại nặng nề thì cũng không được bồi thường). Việc lập bản đồ chi tiết vùng rủi ro đồng nhất cũng là điều khó khăn. Bởi đây là loại hình bảo hiểm lần đầu tiên được xây dựng và triển khai ở Việt Nam nên vai trò của các ngân hàng và sự hợp tác với các cơ quan khí tượng, thủy văn, công tác dự báo, thông tin phải được phối hợp đồng nhất, có kế hoạch cụ thể và liên tục.
Với người nông dân, khi được hỏi, hầu như không mấy người trả lời đã từng nghe nói tới BHCS, và liệu họ có tham gia hay không vẫn còn đang chờ công tác tuyên truyền và khả năng marketing của các doanh nghiệp.
Duy Thiên |