 |
| Trùm khăn cho máy tính dùng truy cập internet tại xã Thượng Thanh (Gia Lâm-Hà Nội). |
KTNT - Bên cạnh những mô hình Bưu điện văn hoá xã (BĐVHX) hoạt động hiệu quả thì ở một số nơi, do công tác quản lý yếu kém, chất lượng phục vụ thấp đã khiến BĐVHX không còn nguyên vẹn như mục tiêu ban đầu. Điều này cho thấy, nếu BĐVHX không tự đổi mới thì sẽ sớm lâm vào tình trạng “chết yểu”.
Bài 1: Những thành quả quan trọng
Chưa thực sự thu hút người dân
Chúng tôi có dịp “mục sở thị” điểm BĐVHX của xã Yên Thường (Gia Lâm - Hà Nội). Được xây dựng từ năm 2001, điểm BĐVHX này nằm khuất trong trụ sở UBND xã và chỉ hoạt động rầm rộ thời gian đầu. Chị Nguyễn Thị Dung, nhân viên của điểm cho biết: “Trước đây, bà con tới đọc sách khá đông, đa phần là các cụ già, em nhỏ, vì vậy chúng tôi thường mở cửa đến 19 giờ 30 phút. Gần đây, do ít khách nên tôi thường đóng cửa sớm để tranh thủ làm việc khác...”.
Không chỉ ở các nơi gần trung tâm thành phố, điểm BĐVHX thiếu sức “hút” khách hàng mà ngay cả ở vùng miền núi xa xôi, nơi người dân “khát” thông tin nhất thì BĐVHX cũng không còn là sự lựa chọn số một. Huyện miền núi Ninh Sơn (Ninh Thuận) có nhiều dân tộc anh em như: Kinh, Chăm, Raglây, K’Ho, Nùng cùng sinh sống. Toàn huyện có 8/9 xã thuộc vùng sâu, vùng xa nên người dân ít có điều kiện tiếp xúc và nắm bắt thông tin. Năm 1999, huyện đã xây dựng mô hình BĐVHX thí điểm tại 3 xã đặc biệt khó khăn là Ma Nới, Mỹ Sơn và Hòa Sơn. Điều này rất có ý nghĩa đối với việc phát triển kinh tế - xã hội của địa phương, nhất là khi Ninh Sơn đang thực hiện chương trình cải tạo vườn tạp, trồng cây công nghiệp ngắn ngày, mở rộng diện tích nuôi cá nước ngọt. Tuy nhiên, điều đáng nói là, tại các điểm BĐVHX của Mỹ Sơn và Hòa Sơn, số người đến đọc sách, báo quá ít. Chị Trịnh Thị Mai Sương, nhân viên điểm BĐVHX Mỹ Sơn cho biết: “Nguyên nhân là do nhận thức của đồng bào còn hạn chế, suốt ngày họ phải lo việc đồng áng nên không có thời gian. Chỉ khi thực sự cần thiết họ mới đến để gọi điện thoại, gửi thư, bưu phẩm. Bình quân mỗi ngày chỉ có khoảng 10-15 lượt người đến đọc sách và gọi điện thoại”. Ngoài ra, theo chị, số lượng sách, báo ở đây còn quá ít (khoảng 300-400 cuốn) và cũ. Công tác chuyển phát các loại báo, thư từ bưu điện tỉnh, huyện đến điểm BĐVHX còn chậm. Việc quy định về mở cửa ở các điểm BĐVHX chưa được hợp lý. Địa điểm xây dựng một số điểm chưa thuận lợi cho việc giao dịch.
Chị Nguyễn Thị Huệ, nhân viên điểm BĐVHX Gia Tân (Gia Viễn – Ninh Bình) cho biết, đã nhiều năm nay, điểm này không hề được bổ sung sách mới. Sách cũ phần lớn đã hư hỏng do điều kiện bảo quản không tốt. Hơn nữa, do người dân có nhiều nguồn tiếp cận thông tin như qua ti vi, đài phát thanh nên họ không có nhu cầu đến BĐVHX. Vì thế, nếu không có người đến đóng cước điện thoại thì có khi cả tuần chẳng có ai đặt chân tới.
Internet "đắp chiếu"
Bên cạnh tình trạng sách báo ế ẩm thì ở nhiều điểm, dịch vụ internet cũng “đắp chiếu nằm ngủ”. Chị Nguyễn Thanh Thuỷ, nhân viên điểm BĐVHX Thượng Thanh (Gia Lâm – Hà Nội) thở dài: “Từ năm 2003, điểm này bắt đầu kết nối internet, được trang bị 2 máy tính nhưng nói thật là đến giờ này, chúng tôi chưa hề có doanh thu từ internet. Máy tính cứ hết bỏ ra lau chùi lại phủ khăn vào cho khỏi bụi... Lý do à. Đây là khu vực trung tâm, trình độ dân trí cao, đa phần người dân đều lắp đặt mạng tại nhà...”.
BĐVHX Thuỷ Xuân (TP. Huế) là một trong những điểm có doanh thu cao nhất tỉnh Thừa Thiên-Huế, bình quân trên 15 triệu đồng/tháng, nhưng doanh thu từ internet chỉ đạt không quá 5%. Với 2 máy vi tính, mỗi tháng chỉ có khoảng 50 lượt người đến truy cập. Theo chị Huỳnh Thị Bích Châu, nhân viên BĐVHX Thuỷ Xuân, do xã nằm trên tuyến đường chính từ TP. Huế đến thị trấn Phú Bài nên những năm gần đây, dịch vụ internet công cộng mọc lên rất nhiều, khách hàng chủ yếu là thanh, thiếu niên đến chơi game và chat. BĐVHX lại không cài đặt các chương trình này nên chỉ có khách hàng lớn tuổi tìm đến. BĐVHX Quảng An, huyện Quảng Điền (Thừa Thiên-Huế) lắp đặt 1 máy vi tính để phục vụ bà con tìm hiểu kỹ thuật nuôi trồng thuỷ sản, nhưng thực tế gần như không có người dân nào tới đây truy cập internet. Chúng tôi hỏi trắc nghiệm 10 nông dân nuôi trồng thuỷ sản ở đây, thì tất cả đều trả lời là không biết vào mạng. Tương tự, khảo sát tại các BĐVHX trên địa bàn TP. Đà Nẵng, thấy số người đến truy cập internet cũng chỉ chiếm bình quân dưới 50 lượt/tháng.
Được biết từ đầu năm 2004, thực hiện chủ trương của Bộ Bưu chính Viễn thông (nay là Bộ Thông tin và Truyền thông), bưu điện các tỉnh miền Trung đã đầu tư lắp đặt kết nối internet cho các BĐVHX nhằm nâng cao đời sống văn hoá cho bà con nông dân, với kinh phí 6-10 triệu đồng/điểm (Quảng Trị có 20/112, Thừa Thiên – Huế 30/122, Đà Nẵng 13/13, Quảng Nam 30/204 điểm BĐVHX được lắp đặt internet). Nhưng đến nay, các thông tin hữu ích từ internet chưa được bà con khai thác để phục vụ cho việc nâng cao dân trí, cải thiện cuộc sống và kỹ thuật sản xuất chỉ vì một lẽ đơn giản: nông dân chưa được phổ cập tin học.
Chất lượng phục vụ "đuổi" khách hàng
Qua khảo sát tại các tỉnh Quảng Ninh, Bắc Kạn, Hà Tĩnh, Ninh Bình... thấy nhiều điểm bố trí quầy điện thoại không thuận tiện. Đồng hồ tính cước là thiết bị không thể thiếu, song nhiều điểm chưa có. Tại nhiều điểm BĐVHX, bảng giá cước và tờ quảng cáo dịch vụ bưu chính viễn thông dán lộn xộn, quảng cáo hết hiệu lực vẫn được treo. Quầy sách báo phục vụ đọc miễn phí hiếm khi có người sờ tới. Trong khi kinh doanh khó khăn, khách hàng thưa thớt thì nhiều nơi, điểm BĐVHX biến thành nơi ở của cả gia đình nhân viên khiến mặt bằng kinh doanh bị thu hẹp, mất mỹ quan. Thậm chí có nơi còn chăn nuôi gà, lợn, buôn bán hàng hóa ngay trong khuôn viên. Điều này làm biến tướng mục tiêu tốt đẹp là tạo dựng điểm BĐVHX thành nơi giao lưu văn hóa của làng xã.
Theo đánh giá của Tổng công ty Bưu chính Việt Nam (VNPost), mạng vận chuyển bưu chính tại các điểm BĐVHX còn yếu, đặc biệt là khâu nhận, phát, thu gom bưu phẩm gửi chất lượng quá kém. Những điểm nằm trên trục đường liên xã, liên huyện, giao thông thuận tiện thì việc nhận, phát bưu phẩm gửi thực hiện được trong ngày, nhưng xã vùng sâu, vùng xa, đường sá đi lại khó khăn thì việc nhận phát bưu phẩm phải mất vài ngày, có khi cả tuần. Doanh thu dịch vụ bưu chính rất thấp, chỉ bằng 6,8% tổng doanh thu tại điểm BĐVHX. “Tại những xã vùng cao, địa bàn hiểm trở, từ xã xuống bản có khi mất vài ngày nên nhân viên bưu tá thường dồn sách báo lại, thậm chí một tháng/lần đem báo xuống bản, dẫn đến tình trạng bà con không được cập nhật thông tin thường xuyên. Thêm nữa, thu nhập của nhân viên BĐVHX thấp cũng khiến họ không tận tình làm việc”, chị Nguyễn Thị Thanh Phương, chuyên viên Vụ Bưu chính (Bộ Thông tin và Truyền thông) nói.
Vấn đề đặt ra là, với những bất cập còn tồn tại như hiện nay mà BĐVHX không đổi mới, sáng tạo phương thức hoạt động thì liệu mô hình này có thể tồn tại lâu dài trong tương lai?
Bài 3: Giấc mơ của nhân viên BĐVHX
Nguyễn Thuỷ |