 |
| Làng nghè La Phù (Hoài Đức - Hà tây) mỗi năm đạt doanh thu 400 tỷ đồng nhờ phát triển hoạt động Khuyến công. |
Đánh giá một cách công bằng, hoạt động khuyến công đã góp phần thúc đẩy kinh tế - xã hội phát triển, giúp bà con tăng thu nhập, thu hẹp dần khoảng cách giữa nông thôn và thành thị. Tuy nhiên, để khuyến công thực sự hiệu quả và là yếu tố không thể thiếu trong sự nghiệp công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước, chúng ta không thể dừng lại ở việc tìm điểm yếu mà phải khắc phục, biến nó thành thế mạnh.>> Bài 1: Khó khăn chồng chất >> Bài 2: Đâu là nguyên nhân
Hoàn thiện cơ chế
Cái khó nhất và cần khắc phục đầu tiên chính là nhân sự. Vốn nổi tiếng có nhiều làng nghề truyền thống (1.180 làng nghề), giá trị sản xuất công nghiệp – tiểu thủ công nghiệp đạt khoảng 4.000 tỷ đồng, chiếm trên 40% giá trị sản xuất công nghiệp tỉnh (năm 2006) nhưng đến năm 2006, Trung tâm Khuyến công và Tư vấn phát triển công nghiệp (TTKC&TVPTCN) Hà Tây chỉ có 7 người, trong đó Phòng Khuyến công vẻn vẹn 1 người. Ông Vương Đăng Hoa, Giám đốc Trung tâm, cho biết: “Số lượng cán bộ quá ít khiến chúng tôi thay nhau “chạy”. Chỉ riêng việc xin kinh phí, hỗ trợ, vận động doanh nghiệp, hợp tác xã đến lập dự án, chương trình, quyết toán cũng đã hết thời gian, chưa kể tuyên truyền, kiểm tra, đánh giá chương trình, thiết lập đội ngũ cộng tác viên”.
Khó về con người đã đành, cơ chế chính sách cũng khiến nhiều địa phương bị “bó chân bó tay”. Nơi ban hành quyết định, yêu cầu các địa phương triển khai thực hiện là Trung ương, nhưng kinh phí, biên chế lại phụ thuộc vào tỉnh, chẳng thế mà có chuyện giám đốc một Trung tâm khuyến công (TTKC) phải... cầm cố sổ đỏ để có tiền hoạt động. Năm 2005, Bộ Công nghiệp (cũ) và Bộ Quốc phòng ký kết chương trình hoạt động “Quân đội tham gia phát triển công nghiệp nông thôn (CNNT) giai đoạn 2006 – 2010” nhằm đẩy nhanh quá trình công nghiệp hoá nông nghiệp, nông thôn, từng bước xoá đói giảm nghèo, nâng cao dân trí, cải thiện đời sống nhân dân trong các khu kinh tế – quốc phòng. Tuy nhiên, theo thượng tá Phạm Xuân Bình, chuyên viên Phòng Kinh tế trong nước (Cục Kinh tế – Bộ Quốc phòng), việc xây dựng các mô hình khuyến công thích hợp còn nhiều vướng mắc. Đoàn kinh tế – quốc phòng không phải là đơn vị hoạt động kinh doanh, do đó cán bộ phụ trách khuyến công phải tự thân vận động và loay hoay trong việc tìm nguồn vốn đối ứng, kinh phí lại quá thấp (gần 100 triệu đồng), giải ngân chậm... Ông Đoàn Duy Hà, Phó giám đốc Sở Công nghiệp Quảng Ninh tâm sự: “Việc xây dựng mô hình CNNT, xoá các “vùng trắng” công nghiệp ở địa bàn nông thôn đang được Nhà nước hết sức quan tâm, nhưng muốn đầu tư vào vùng này, các chủ dự án, doanh nghiệp phải có số vốn rất lớn, trong khi kinh phí hỗ trợ theo chính sách khuyến công thấy thủ tục thanh quyết toán phức tạp. Có vốn đã là thành công, nhưng quan trọng hơn là sử dụng đồng vốn đó như thế nào cho hiệu quả. Cái khó của các TTKC hiện nay, chính là tính thụ động, trông chờ vào đồng vốn Nhà nước. Tại sao chúng ta không năng động hơn bằng cách tự tạo nguồn vốn, cho vay, phát triển các dịch vụ tư vấn, thu hút vốn đầu tư nước ngoài...”.
Đầu tư có chọn lọc
Hội thảo về đẩy mạnh và nâng cao hiệu quả hoạt động khuyến công các tỉnh, thành phố phía Bắc đã ghi nhận nhiều giải pháp cho khuyến công. Một trong những giải pháp khả thi nhất là đầu tư có chọn lọc. Ông Nguyễn Hồng Phong, Giám đốc TTKC Nghệ An, cho rằng: “Thông tư liên tịch số 02/2003/TTLT-BCN-BNV ngày 29/10/2003 quy định TTKC là đơn vị sự nghiệp thuộc Sở Công nghiệp nhưng chưa có hướng dẫn về chức năng, nhiệm vụ cũng như tổ chức, biên chế của TTKC, quyền lợi và trách nhiệm của cán bộ làm công tác khuyến công. Nhà nước cần bố trí 1 khuyến công viên ở xã, phường, thị trấn, vì đội ngũ này mới là bộ phận quan trọng để hoạt động sản xuất công nghiệp có hiệu quả ở nông thôn. Theo kinh nghiệm của ông Đỗ Đăng Hùng, Giám đốc TTKC Hà Nam, tranh thủ tối đa sự quan tâm, ủng hộ của các cấp, ngành liên quan cũng là cách giúp khuyến công hoạt động có hiệu quả. Bên cạnh đó, đẩy mạnh công tác tuyên truyền, nâng cao nhận thức của một bộ phận cán bộ và nhân dân về vị trí, tầm quan trọng của việc phát triển CNNT; làm tốt công tác tư vấn, tăng cường hoạt động tìm kiếm thông tin, thị trường, quảng bá, tôn vinh các sản phẩm công nghiệp – tiểu thủ công nghiệp của địa phương.
Giáo sư, tiến sĩ Nguyễn Đình Phan (Trường Đại học Kinh tế quốc dân) cho rằng, có 4 vấn đề cần lưu ý khi phát triển CNNT, đó là quy hoạch phát triển CNNT phải gắn với chiến lược phát triển ngành, vùng và chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của địa phương; đào tạo lao động quản lý và lao động làm việc (hiện chỉ có 31% giám đốc các cơ sở CNNT có trình độ cao đẳng, đại học); nâng cao năng suất lao động để đạt hiệu suất sử dụng và tăng khả năng cạnh tranh khi hội nhập; có chính sách giải quyết tốt các vấn đề xã hội như việc làm, thu nhập, bảo hiểm, y tế...
Trong khi chờ kinh phí, các TTKC nên đầu tư có chọn lọc, tận dụng mọi nguồn lực, chú trọng những địa bàn trọng điểm, nhiều tiềm năng về lao động có trình độ, nguyên liệu và đầu ra cho sản phẩm, tránh tình trạng "ôm đồm", chồng chéo. Ông Long khẳng định: “Ngay bây giờ, chúng ta cần hoàn thành việc ban hành Thông tư hướng dẫn chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của các TTKC để thực hiện thống nhất từ Trung ương đến địa phương; tăng cường đầu tư cơ sở vật chất, con người và kiện toàn bộ máy quản lý nhà nước, ít nhất là đến cấp huyện. Về lâu dài, cần tập trung hoạt động vào một mối để chuyên môn hoá hệ thống; có cơ chế phối hợp giữa các nguồn vốn, liên kết với Cục Công nghiệp chế biến, Trung tâm Khuyến nông và các tổ chức khác để khuấy động phong trào phát triển CNNT, nhất là phải gắn với doanh nghiệp để làm tốt vai trò cầu nối giữa nhà nông với doanh nghiệp”.
Sự nghiệp phát triển CNNT được ví như “cánh tay nối dài” của Nhà nước trong công tác quản lý và thúc đẩy ngành công nghiệp phát triển. Và để công tác khuyến công thực sự hiệu quả, có sự thống nhất trong chỉ đạo, triển khai và tránh lãng phí, thất thoát, nên chăng Nhà nước chỉ nên giao cho một đơn vị thực hiện. Đơn vị này là đầu mối giữa Trung ương với các tỉnh thành, ban ngành liên quan, có trách nhiệm xây dựng đề án, tổ chức và giao cho các địa phương thực hiện dự án sao cho hiệu quả nhất.
Bài 4: Người trong cuộc nói gì?
Minh Huệ
|
Chú trọng dịch vụ có thu Khuyến công Nam Định vững bước
Cũng nằm trong khó khăn chung nhưng Nam Định đang được coi là một trong những địa phương điển hình thực hiện tốt Nghị định 134. Năm 2006, giá trị sản xuất công nghiệp trên địa bàn đạt 4.788, 3 tỷ đồng, trong đó công nghiệp trung ương đạt 1.057, 5 tỷ đồng (tăng 11,6%), công nghiệp địa phương đạt 3.584, 1 tỷ đồng (tăng 29,5%), tổng kim ngạch xuất khẩu hàng công nghiệp đạt 131, 3 triệu USD, tăng 18,6% so với năm 2005. Toàn tỉnh hiện có 661 doanh nghiệp dân doanh sản xuất công nghiệp, 87 làng nghề phân bố khắp các huyện, thu hút hàng triệu lao động nông thôn. Ông Nguyễn Toàn Thắng, Giám đốc TTKC &TVPTCN Nam Định, cho biết: “Nếu so với các tỉnh khác, tốc độ tăng trưởng khuyến công ở Nam Định chưa thấm tháp gì nhưng vì mới thành lập được hơn 2 năm nên những con số trên đã thể hiện sự cố gắng và quyết tâm cao của các cấp, các ngành trong việc tập trung đầu tư cho phát triển CNNT. Mặc dù gặp nhiều khó khăn về cơ sở vật chất, nhân lực (5 cán bộ công chức) nhưng vì lựa chọn phương châm “chậm nhưng chắc” nên công tác khuyến công của tỉnh phát triển khá bền vững”. Theo đó, nguồn kinh phí khuyến công năm 2006 là 1, 5 tỷ đồng, ngay từ đầu năm, TTKC&TVPTCN đã tập trung triển khai kế hoạch, phối hợp với Phòng Công thương các huyện và thành phố Nam Định tổ chức hướng dẫn các đơn vị được thụ hưởng triển khai đề án đúng trình tự, quy định của Nhà nước. Nội dung chính trong năm 2006 là dành khoảng gần 1 tỷ đồng cho truyền nghề, dạy nghề và nhân cấy nghề, vì thế công tác đào tạo nghề cho người lao động nông thôn ở đây đạt kết quả khá cao (đào tạo được trên 10.000 lao động, trong đó 65% có việc làm ổn định tại các làng nghề, doanh nghiệp CNNT).
Ngoài ra, Nam Định còn dành một phần kinh phí cho công tác hỗ trợ các doanh nghiệp tham gia hội chợ, triển lãm, quảng bá thương hiệu, giới thiệu sản phẩm (trong Hội chợ triển lãm hàng công nghiệp nông thôn các tỉnh phía Bắc lần thứ nhất tại Vĩnh Phúc, Bộ Công nghiệp đã tặng các cơ sở CNNT Nam Định 3 Huy chương vàng và 2 Bằng khen); phối hợp với Trường Đại học Kinh tế quốc dân mở các lớp bồi dưỡng kiến thức quản lý doanh nghiệp cho các chủ doanh nghiệp CNNT; tổ chức 2 chương trình dạy nghề và 3 mô hình trình diễn kỹ thuật. Nam Định còn là một trong số ít địa phương phát huy tốt dịch vụ có thu, tăng nguồn vốn dự trữ và đảm bảo sự chủ động cho Trung tâm khi xây dựng thành công 17 dự án thiết kế với doanh thu 198 triệu đồng. Năm 2007, tỉnh tiếp tục tăng nguồn kinh phí cho khuyến công lên 2 tỷ đồng nhằm góp phần thúc đẩy tốc độ tăng trưởng ngành công nghiệp của tỉnh lên 25%, bổ sung biên chế 10 người nhằm đảm bảo chất lượng khuyến công, đáp ứng tốt hơn nhiệm vụ tư vấn doanh nghiệp... P.V | |