“Tam nông” ở Vĩnh Phúc: Xây dựng nông thôn mới văn minh, hiện đại

    05/03/2007 - 10:39:00

    Đột phá từ những điểm yếu

    Mặc dù có tốc độ phát triển các khu công nghiệp thuộc diện “hoành tráng” nhất miền Bắc nhưng Vĩnh Phúc vẫn còn 60% dân số sống bằng nghề nông với hiệu quả sản xuất chưa cao. Bình quân mỗi lao động nông nghiệp chỉ tạo ra 5, 2 triệu đồng /năm; trong khi đó, sản xuất công nghiệp cao gấp 8, 45 lần, làm dịch vụ gấp 3, 7 lần. Đồng đất Vĩnh Phúc đa số bạc màu, nghèo dinh dưỡng, tuy hệ số sử dụng đất cao, bà con đã biết ứng dụng tiến bộ kỹ thuật nhưng giá trị thu nhập vẫn thấp. Năm 2006, bình quân mỗi hecta chỉ đạt 31 triệu đồng, thấp hơn bình quân cả nước và khu vực Đồng bằng sông Hồng.

    Trước thực trạng này, các ban ngành trong tỉnh, đặc biệt là ngành nông nghiệp được giao nhiệm vụ “kích hoạt” các nhân tố tích cực trong sản xuất nông nghiệp. Theo đó, tiếp tục làm tốt hơn việc cải tạo giống cây trồng - vật nuôi, ứng dụng tiến bộ kỹ thuật vào canh tác, quy hoạch vùng sản xuất hàng hoá, chuyển đổi mùa vụ,... và chú trọng đầu tư vào hai thế mạnh tiềm năng của địa phương. Đó là làm kinh tế đồi rừng và cải tạo vùng chiêm trũng.

    Với trên 20.000ha đồi, rừng (thuộc các huyện Lập Thạch, Tam Đảo, phía Bắc huyện Tam Dương, Bình Xuyên) được tổ chức thành các trang trại trồng cây ăn quả, cây nguyên liệu giấy, cây công nghiệp, cây lấy gỗ và chăn nuôi gia súc, gia cầm. Vải, nhãn lồng, hồng, xoài, na, bưởi, cam, quýt sẽ là cây chủ lực. Tỉnh kiện toàn và mở rộng nhà máy chế biến hoa quả Tam Dương gắn với việc quy hoạch các xã lân cận thành vùng nguyên liệu cho nhà máy. Các trang trại chăn nuôi theo hướng công nghiệp, quy mô lớn được phát huy; xây dựng lò giết mổ gia súc, gia cầm tập trung tại 11 địa phương phân bố tương đối đều trong toàn tỉnh.

    Vùng chiêm trũng với trên 6.000ha mặt nước sẽ chuyển 2.200ha sang nuôi cá, tôm; tổ chức cải tạo, xây dựng các khu vực nuôi cá, tôm theo hướng tập trung, sử dụng các biện pháp kỹ thuật, máy móc, thức ăn công nghiệp vào chăn nuôi. Rất nhiều mô hình kinh tế mới, hiệu quả cao và những chủ trang trại dám đầu tư hàng tỷ đồng xây dựng các trang trại tập trung đã xuất hiện ở Vĩnh Phúc. Xã Đại Đồng (huyện Vĩnh Tường) bây giờ là vùng chuyên canh rau rộng lớn, với những mô hình trồng rau an toàn cho thu nhập 100 – 150 triệu đồng /ha/năm. Trong phong trào đó, nhiều triệu phú, tỷ phú nông dân đã xuất hiện như ông Trần Văn Thanh ở phường Đồng Tâm (TP. Vĩnh Yên) đầu tư hàng tỷ đồng xây dựng chuồng trại chăn nuôi lợn quy mô công nghiệp với “tham vọng” hình thành hệ thống cung cấp thịt lợn sạch cho thị trường trong và ngoài tỉnh. Với những đột phá như vậy, từ năm 2001 đến nay, sản xuất nông nghiệp bình quân mỗi năm tăng 7,1%, lương thực có hạt đạt 40 vạn tấn /năm. Riêng năm 2006, tổng giá trị sản xuất nông nghiệp đạt trên 3.500 tỷ đồng, cao nhất từ trước tới nay.

    Miễn - giảm thuỷ lợi phí, cú hích đầu tiên

    Miễn, giảm thuỷ lợi phí là một trong những chính sách được bà con nông dân ủng hộ. Chính vì vậy, trong khi nông dân các tỉnh “hàng xóm” không mặn mà với ruộng đồng thì ở Vĩnh Phúc hầu như không có một diện tích nào bị bỏ hoang, ngay cả khi có những biến động lớn về thời tiết, giá nông sản trồi sụt. Việc giảm thuỷ lợi phí đã mang lại khí thế lao động mới trên các vùng quê, diện tích sản xuất ngày càng được mở rộng. Năm 2007, Vĩnh Phúc sẽ thực hiện miễn thuỷ lợi phí cho toàn bộ nông dân; ưu tiên giải quyết nước tưới cho vùng khó khăn, dự kiến kinh phí 48 tỷ đồng (tăng 22 tỷ đồng so với năm 2006). ông Nguyễn Bá Vi - nông dân xã Bình Dương (huyện Vĩnh Tường) cho biết: “Bà con chúng tôi rất phấn khởi khi tỉnh có chủ trương xoá thuỷ lợi phí. Được bỏ một loại phí cũng có nghĩa là sản phẩm được tăng thêm một giá trị, nên nông dân rất yên tâm”.

    Mặc dù việc miễn giảm thuỷ lợi phí sẽ khiến các công ty quản lý và khai thác công trình thuỷ lợi gặp khó khăn nhưng theo ông Nguyễn Đức Sinh, Trưởng phòng Thuỷ lợi (Sở NN &PTNT Vĩnh Phúc), việc miễn giảm thuỷ lợi phí đã giúp 80% dân số sản xuất nông nghiệp được hưởng lợi. ông Phạm Xuân Sử, Cục trưởng Cục Thuỷ lợi (Bộ NN &PTNT) cho rằng: Việc hỗ trợ sản xuất nông nghiệp bằng cách miễn giảm thuỷ lợi phí như Vĩnh Phúc là sáng tạo, hết sức cần thiết. Bởi thuỷ lợi phí hiện chiếm đến 1/5 giá trị của một sản phẩm nông nghiệp, vì vậy, việc giảm thuỷ lợi phí rất có ý nghĩa đối với nông dân nghèo, giảm bớt các áp lực trong sản xuất nông nghiệp hiện nay...

    “Tam nông” thời hội nhập“

    Nội dung bao trùm của Nghị quyết là “giảm đóng góp, tăng đầu tư”, trong đó vấn đề đào tạo nghề, nâng cao trình độ cho nông dân được đặc biệt chú trọng. Theo đó, từ năm 2007 sẽ tổ chức bồi dưỡng, huấn luyện, cập nhật những kiến thức cơ bản về pháp luật, cơ chế, chính sách, kỹ thuật sản xuất, thị trường, cách thức làm ăn cho 200.000 – 220.000 nông dân (trung bình mỗi hộ 1 người); kinh phí dự kiến 12 tỷ đồng /năm. Các điểm tư vấn cho nông dân sẽ được xây dựng, nhằm cung cấp thông tin cho nông dân, hướng dẫn kỹ thuật, giải đáp thắc mắc về cơ chế, chính sách; giao lưu trực tuyến với nông dân. Kinh phí thực hiện năm 2007 – 2008 là 9 tỷ đồng /năm; từ năm 2009 trở đi là 3 tỷ đồng /năm.

    Nhưng để thực hiện được mục tiêu đó, những công việc Vĩnh Phúc phải làm không ít và còn nhiều khó khăn. Theo TS. Đặng Kim Sơn, Viện trưởng Viện Chính sách và Chiến lược nông nghiệp - nông thôn, trong công tác đào tạo nghề, phải dạy những “cái” nông dân muốn học để họ sản xuất ra “cái” thị trường cần. GS. Nguyễn Lân Dũng cho rằng, nên xây dựng các trung tâm dạy nghề ngắn hạn cho nông dân, chỉ từ 5-7 ngày. Công tác dạy nghề sẽ thực sự hiệu quả khi gắn với các doanh nghiệp thu mua, chế biến và xuất khẩu nông sản. “Chính sách đầu tư, hỗ trợ không nhất thiết phải là cho nông dân “cần câu, con cá” mà hãy chỉ cho nông dân nuôi, trồng như thế nào, ai mua, yêu cầu chất lượng ra sao, bán ở đâu được giá cao nhất” - ông Dũng nói. Nhà báo Hữu Thọ, nguyên Trưởng ban Tư tưởng - Văn hoá T.ư cho rằng, cấp Trung ương cũng cần xây dựng một nghị quyết về phát triển nông nghiệp, nông thôn và nông dân khi Việt Nam đã gia nhập Tổ chức Thương mại thế giới (WTO).

    Hiện các cấp, các ngành trong tỉnh Vĩnh Phúc đang tích cực triển khai các công việc theo tinh thần Nghị quyết 03. Tuy nhiên, khó khăn nhất hiện nay để phát triển nông nghiệp hàng hoá ở Vĩnh Phúc là vấn đề tích tụ ruộng đất. ông Nguyễn Khắc Minh, Phó giám đốc Trung tâm Khuyến nông Vĩnh Phúc cho rằng: “Nếu không tích tụ ruộng đất thì không thể thành sản xuất hàng hoá. Vì vậy, Nhà nước phải có những chính sách về đất đai sát hợp, cụ thể. Bên cạnh đó, phải xây dựng hệ thống quản lý chất lượng để có những nông sản chất lượng cao”. ông Nguyễn Tuấn Hùng, Chủ tịch Hội Làm vườn tỉnh khẳng định: “Để các nội dung của nghị quyết thực hiện đầy đủ và sâu rộng, các ban ngành phải liên kết, phối hợp chặt chẽ. Đặc biệt trong lĩnh vực sản xuất nông nghiệp, nếu không có sự liên kết thì không có sản xuất hàng hoá, điều đó cũng có nghĩa, người nông dân không thể làm giàu từ đồng ruộng”. Vĩnh Phúc cần tổng kết xem hiện nay nông dân đang tích tụ ruộng đất theo hình thức nào. Hình thức tích tụ nào là phù hợp với xu thế thì hợp thức hoá và khuyến khích - ông Hữu Thọ nhấn mạnh.

    Dù rằng đây mới chỉ là “bước dạo đầu” nhưng chắc chắn với tinh thần cởi mở, dành đầu tư cho nông nghiệp - nông thôn, chắc chắn trong những năm tới, nông thôn Vĩnh Phúc sẽ có bước chuyển ngoạn mục, hoà nhập vững vàng với tiến trình hội nhập.

    Anh Thơ


    Kinh tế nông thôn đăng toàn văn Nghị quyết của Hội nghị lần thứ tư Ban chấp hành Đảng bộ tỉnh Vĩnh Phúc về phát triển nông nghiệp, nông thôn, nâng cao đời sống nông dân giai đoạn 2006-2010, định hướng đến năm 2020.


    TỈNH UỶ VĨNH PHÚC

    ***

    ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM

    Số 03 -NQ/TU

    Vĩnh Yên, ngày 27 tháng 12 năm 2006



    NGHỊ QUYẾT HỘI NGHỊ LẦN THỨ TƯ
    BAN CHẤP HÀNH ĐẢNG BỘ TỈNH KHOÁ XIV

    Về phát triển nông nghiệp, nông thôn, nâng cao đời sống nông dân giai đoạn 2006-2010, định hướng đến năm 2020.

    Thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ X, Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XIV và Chương trình công tác toàn khoá của Tỉnh uỷ; để tiếp tục đẩy nhanh công nghiệp hóa, hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn, Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh ra Nghị quyết về phát triển nông nghiệp, nông thôn, nâng cao đời sống nông dân giai đoạn 2006-2010, định hướng đến năm 2020.

    I. ĐÁNH GIÁ TÌNH HÌNH.

    Những năm qua, nhất là từ khi tỉnh được tái lập, phát huy truyền thống đoàn kết và cách mạng, Đảng bộ và nhân dân các dân tộc trong tỉnh đã vượt qua nhiều khó khăn, phấn đấu đạt được những thành tựu quan trọng trên tất cả các lĩnh vực. Kinh tế đạt tốc độ tăng trưởng cao, GDP giai đoạn 2001-2005 tăng bình quân 15,6%/năm. Cơ cấu kinh tế chuyển dịch mạnh theo hướng tăng tỷ trọng công nghiệp. Thu hút đầu tư từ các thành phần kinh tế tăng mạnh. Thu, chi ngân sách tăng nhanh, đặc biệt thu nội địa chiếm tỷ trọng cao. Tiềm lực kinh tế, cơ sở vật chất kỹ thuật được tăng cường.

    Trong quá trình thực hiện các nhiệm vụ phát triển kinh tế-xã hội, lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn luôn được tỉnh đặc biệt quan tâm. Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XIII nhiệm kỳ 2001-2005 đã đề ra 10 chương trình kinh tế-xã hội, trong đó có 4 chương trình liên quan trực tiếp đến nông nghiệp, nông thôn. Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh (khoá XIII) đã ban hành Nghị quyết 10-NQ/TU về chuyển dịch cơ cấu sản xuất nông nghiệp. Trong quá trình tổ chức thực hiện, Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân tỉnh đã ban hành nhiều cơ chế, chính sách, quan tâm đầu tư nhằm đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp, đưa tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất, hỗ trợ sản xuất, xây dựng nông thôn, cải thiện và nâng cao đời sống nông dân. Do vậy, giai đoạn 2001-2005 sản xuất nông-lâm nghiệp-thuỷ sản đạt mức tăng trưởng bình quân 7,1%/năm, trong đó, chăn nuôi tăng 13,02%/năm, thuỷ sản tăng 19,95%/năm. Cơ cấu kinh tế nông nghiệp chuyển dịch tích cực, tỷ trọng chăn nuôi tăng từ 28,16% năm 2001 lên 43,1% năm 2006. An toàn lương thực được đảm bảo. Tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ ở nông thôn khá phát triển. Bước đầu đã hình thành một số mô hình kinh tế hộ, kinh tế trang trại sản xuất mang tính hàng hoá. Kết cấu hạ tầng nông thôn được tăng cường. Nhiều chính sách hỗ trợ nông nghiệp, nông thôn, nông dân được ban hành, phát huy hiệu quả. Các lĩnh vực văn hoá, xã hội có nhiều tiến bộ. An ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội được đảm bảo, quốc phòng được tăng cường. Hệ thống chính trị ở nông thôn được củng cố, kiện toàn, nâng cao năng lực, hiệu quả hoạt động. Đời sống nông dân được cải thiện, nâng lên. Tỉnh đã xoá hộ đói; hộ nghèo giảm mỗi năm từ 2-3%. Bộ mặt của các vùng nông thôn có nhiều đổi mới.

    Bên cạnh những thành tựu đã đạt được, trong phát triển kinh tế, nhất là trong lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn còn bộc lộ những hạn chế, yếu kém. Kinh tế tăng trưởng nhanh nhưng vẫn chưa tương xứng với tiềm năng, chất lượng và sức cạnh tranh của một số lĩnh vực còn thấp. Công nghiệp chế biến nông sản, tiểu thủ công nghiệp, làng nghề phát triển chậm. Hiệu quả sản xuất nông nghiệp thấp, khối lượng hàng hoá ít, giá thành cao. Thu nhập của người lao động khu vực nông nghiệp thấp hơn nhiều so với lao động ở các khu vực kinh tế khác. Kết cấu hạ tầng kinh tế-xã hội còn nhiều bất cập. Phát triển văn hoá chưa theo kịp với tốc độ tăng trưởng kinh tế; chất lượng nguồn nhân lực còn rất thấp so với yêu cầu. Tình trạng thừa lao động, thiếu việc làm khá phổ biến. Thực hiện nếp sống văn minh trong việc cưới, việc tang, lễ hội, mừng thọ ở nhiều nơi chưa tốt. Khiếu nại, tố cáo của nhân dân còn là vấn đề bức xúc. Đời sống nông dân tuy được cải thiện nhưng còn nhiều khó khăn; khoảng cách giàu nghèo giữa nông thôn và thành thị, giữa nông dân và các nhóm xã hội khác, giữa miền núi, đồng bào dân tộc thiểu số và miền xuôi... có chiều hướng gia tăng.

    Nguyên nhân những hạn chế, yếu kém:

    Về khách quan: Do điểm xuất phát của nền kinh tế thấp; tốc độ đô thị hoá và tăng trưởng kinh tế cao, thu hút đầu tư lớn đã nảy sinh những mâu thuẫn giữa tăng trưởng kinh tế và phát triển xã hội. Nhu cầu đầu tư cho phát triển nông nghiệp, nông thôn lớn song khả năng đáp ứng của các nguồn lực còn thấp. Tư duy về kinh tế thị trường của đại bộ phận nông dân còn nhiều hạn chế. Khu vực nông nghiệp, nông thôn chịu nhiều tác động của thiên tai, dịch bệnh, rủi ro cao.

    Về chủ quan: Năng lực lãnh đạo, chỉ đạo và tổ chức thực hiện của hệ thống chính trị nói chung, nhất là ở cơ sở nhiều mặt chưa đáp ứng yêu cầu; khả năng tham mưu, đề xuất, cụ thể hoá chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước và của tỉnh còn yếu. Chất lượng đội ngũ cán bộ quản lý, chuyên môn, nghiệp vụ, đội ngũ doanh nhân còn nhiều hạn chế, chưa đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ.

    Công tác lập quy hoạch còn chậm, chất lượng quy hoạch còn thấp; việc điều chỉnh, bổ sung, cập nhật quy hoạch chưa kịp thời; năng lực quản lý, thực thiện quy hoạch còn yếu. Công tác chuẩn bị đầu tư chậm. Hệ thống cơ chế, chính sách về nông nghiệp, nông thôn và nông dân thiếu đồng bộ và còn nhiều vướng mắc.

    Đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng nông nghiệp, nông thôn, hỗ trợ nông dân còn nhiều khó khăn; những vùng dành đất để phát triển công nghiệp, dịch vụ, đô thị chưa được quan tâm đầu tư thoả đáng.

    Công tác đào tạo, bồi dưỡng, nâng cao nhận thức, dạy nghề cho nông dân; công tác thông tin, nhất là về luật pháp, chính sách, thị trường tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp chưa được coi trọng. Những giải pháp về giải quyết việc làm, tăng thu nhập cho nông dân hiệu quả chưa cao.

    Phát triển các lĩnh vực y tế, văn hoá, giáo dục ở nông thôn, nhất là bậc học mầm non, xây dựng thiết chế văn hoá làng, xã, bảo tồn và phát triển văn hoá truyền thống chưa được quan tâm đúng mức.

    II. QUAN ĐIỂM VÀ MỤC TIÊU.

    1. Quan điểm.

    - Phát triển nông nghiệp, nông thôn, nâng cao đời sống nông dân là nhiệm vụ đặc biệt quan trọng trong chiến lược phát triển kinh tế-xã hội của tỉnh, nhất là trong điều kiện nước ta gia nhập Tổ chức Thương mại thế giới (WTO) và hội nhập ngày càng sâu rộng, toàn diện với nền kinh tế thế giới. Để phát triển nông nghiệp, nông thôn, nâng cao đời sống nông dân phải phát triển đồng bộ các lĩnh vực kinh tế-xã hội, trong đó phải phát triển mạnh công nghiệp, lấy phát triển công nghiệp là nền tảng; đẩy mạnh phát triển và nâng cao chất lượng các lĩnh vực dịch vụ, trong đó lấy phát triển du lịch làm mũi nhọn nhằm hỗ trợ cho nông nghiệp, nông thôn trong chuyển dịch cơ cấu kinh tế, cơ cấu lao động, đồng thời tăng thu ngân sách để tái đầu tư cho nông nghiệp, nông thôn.

    - Phát triển nông nghiệp, nông thôn, trước hết phải phát triển lực lượng sản xuất, trong đó chú trọng phát huy nguồn lực con người, tạo môi trường thuận lợi để giải phóng sức sản xuất của mọi thành phần kinh tế và tạo điều kiện cho nông dân chủ động đầu tư phát triển nông nghiêp, nông thôn.

    - Giải quyết tốt mối quan hệ giữa tăng trưởng và phát triển, giữa tăng trưởng kinh tế với ổn định xã hội, bảo vệ môi trường, phòng chống, giảm nhẹ thiên tai, xây dựng nông thôn mới nhằm giải quyết việc làm, giảm nghèo, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nông dân, nhất là đồng bào dân tộc thiểu số, vùng núi, vùng khó khăn, các xã nghèo. Từng bước thu hẹp khoảng cách về mức sống giữa thành thị và nông thôn, giữa nông dân và các thành phần xã hội khác; giữ gìn và phát huy các giá trị văn hoá truyền thống.

    - Kết hợp chặt chẽ giữa phát triển nông nghiệp, nông thôn với giữ vững an ninh chính trị, đảm bảo trật tự an toàn xã hội, tăng cường củng cố quốc phòng. Nâng cao ý thức chấp hành pháp luật cho nhân dân. Phát huy dân chủ, tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân. Xây dựng hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh.

    - Phát triển nông nghiệp, nông thôn, nâng cao đời sống nông dân với phương châm: Giảm đóng góp, tăng đầu tư, phát triển nông thôn toàn diện.

    2. Mục tiêu.

    Khai thác tối đa tiềm năng, lợi thế về vị trí địa lý, tài nguyên, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, thu hút trí tuệ của đội ngũ trí thức, doanh nhân; phát huy tinh thần cách mạng, tính cần cù, sáng tạo và vai trò trọng yếu của nông dân trong phát triển kinh tế-xã hội nông thôn theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá. Đẩy mạnh phát triển các lĩnh vực công nghiệp, dịch vụ nhằm giải quyết việc làm, phân công lại lao động xã hội, trong đó chuyển phần lớn lao động từ khu vực nông nghiệp sang khu vực công nghiệp, dịch vụ, tăng thu nhập từ sản xuất nông nghiệp và các ngành nghề phi nông nghiệp ở nông thôn. Xây dựng nông thôn mới giàu, đẹp, văn minh, có hệ thống kết cấu hạ tầng kinh tế -xã hội phát triển, hệ thống chính trị vững mạnh, xã hội ổn định, an ninh quốc phòng được giữ vững, trật tự an toàn xã hội, môi sinh, môi trường được đảm bảo; đời sống vật chất, văn hoá, tinh thần của người dân nông thôn không ngừng được cải thiện và nâng cao.

    Phát triển sản xuất nông nghiệp toàn diện, hiệu quả, bền vững. Phát huy lợi thế từng vùng; hình thành các vùng sản xuất hàng hoá tập trung, vùng nông nghiệp đô thị có năng suất, chất lượng, sức cạnh tranh và hiệu quả cao trên cơ sở đẩy mạnh ứng dụng các thành tựu khoa học-công nghệ tiên tiến và gắn với thị trường. Phát triển mạnh chăn nuôi, thuỷ sản gắn với an toàn dịch bệnh. Khai thác hiệu quả đất đai, trong đó chú trọng vùng đồi, vùng trũng. Quan tâm củng cố, nâng cấp hệ thống đê điều, thuỷ lợi.

    Tăng đầu tư, hỗ trợ cho nông nghiệp, nông thôn, nông dân. Đầu tư, xây dựng hệ thống hạ tầng kinh tế-xã hội cho nông nghiệp, nông thôn theo hướng hiện đại, đáp ứng yêu cầu phát triển. Ngân sách Nhà nước ưu tiên đầu tư vào các lĩnh vực, chương trình, công trình trọng điểm, một số vấn đề trọng tâm, có tính bức xúc nhất tác động đến đông đảo nông dân.

    Những chỉ tiêu chủ yếu đến năm 2010.

    - Về sản xuất nông nghiệp:

    Tốc độ tăng trưởng bình quân trên 5,5%/năm.

    Tỷ trọng nông lâm nghiệp, thuỷ sản trong cơ cấu kinh tế của tỉnh 10-12%.

    Tỷ trọng chăn nuôi, thuỷ sản trong cơ cấu nông lâm nghiệp, thuỷ sản trên 50%.

    - Về nông thôn, nông dân:

    GDP bình quân đầu người đạt 1.300 - 1.500 USD, trong đó, khu vực nông nghiệp, nông thôn đạt trên 600 USD.

    Mỗi năm giải quyết việc làm 24 - 25 ngàn lao động. Tỷ lệ lao động nông lâm nghiệp, thuỷ sản dưới 48%. Tỷ lệ lao động qua đào tạo 40 - 45%, trong đó, 30% trở lên lao động nông nghiệp, nông thôn được đào tạo.

    Tỷ lệ hộ nghèo giảm bình quân 2%/năm trở lên.

    Đường giao thông nông thôn được kiên cố hoá 80% trở lên.

    Hoàn thành phổ cập giáo dục trung học phổ thông; 70% trường mầm non, 90% trường tiểu học, 70% trường trung học cơ sở, trung học phổ thông đạt chuẩn quốc gia.

    100% số xã đạt chuẩn quốc gia về y tế; 80% học sinh được khám sức khoẻ hàng năm, 90% người cao tuổi, tàn tật được quản lý sức khỏe, 100% xã xây dựng quĩ sự nghiệp y tế và khám chữa bệnh miễn phí cho đối tượng chính sách, trẻ em dưới 6 tuổi.

    85% gia đình đạt tiêu chuẩn gia đình văn hoá, 80% làng đạt tiêu chuẩn văn hoá; 100% các xã, thôn, bản có nhà văn hoá, khu hoạt động thể dục thể thao và vui chơi giải trí cho trẻ em. Xây dựng 20 làng văn hoá trọng điểm.

    Các dịch vụ bưu chính, viễn thông, điện, giao thông nông thôn, nước sạch và vệ sinh môi trường đáp ứng yêu cầu công nghiệp hoá - hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn.

    Giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội trên địa bàn. Thực hiện tốt qui chế dân chủ ở cơ sở.

    Tỷ lệ tổ chức cơ sở Đảng đạt danh hiệu trong sạch, vững mạnh đạt 80% trở lên; bộ máy chính quyền, các tổ chức chính trị-xã hội hoạt động có chất lượng, hiệu quả.

    Định hướng đến năm 2020:

    Phấn đấu đạt tốc độ tăng trưởng kinh tế gấp 1,5 lần bình quân chung cả nước; có đóng góp vào sự phát triển chung của vùng kinh tế trọng điểm Bắc bộ, thúc đẩy hỗ trợ phát triển kinh tế các vùng khác, nhất là vùng khó khăn. Phấn đấu đạt mục tiêu Vĩnh Phúc có đủ các yếu tố cơ bản của tỉnh công nghiệp vào năm 2015; trở thành thành phố Vĩnh Phúc vào những năm 20 của thế kỷ XXI. Xây dựng nền nông nghiệp hàng hoá gắn với công nghiệp chế biến; nâng cao chất lượng, giá trị và sức cạnh tranh của hàng hoá nông sản; tăng thu nhập cho nông dân. Phát triển nguồn nhân lực, đảm bảo quốc phòng, an ninh, an sinh xã hội và an toàn môi trường.

    Trong giai đoạn 2011-2020 phấn đấu đạt nhịp độ tăng trưởng GDP trên 13%/năm; GDP bình quân đầu người đến năm 2015 đạt 3.000 USD; năm 2020 đạt 5.500-6.000 USD.

    Đến năm 2020: Tỷ trọng giá trị nông-lâm nghiệp-thuỷ sản còn 3%; lao động trong nông nghiệp chiếm 20% trong cơ cấu kinh tế, cơ cấu lao động; tỷ lệ dân số sống ở nông thôn còn 45%.

    III . NHỮNG NHIỆM VỤ VÀ GIẢI PHÁP CHỦ YẾU.

    1. Về quy hoạch:

    Tập trung xây dựng các quy hoạch tổng thể, quy hoạch ngành, vùng, quy hoạch nông thôn, từ đó xây dựng quy hoạch sử dụng đất có tầm nhìn đến năm 2020 và kế hoạch thực hiện quy hoạch. Chú ý lập các quy hoạch phát triển công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và ngành nghề, thương mại-dịch vụ-du lịch, giao thông nông thôn. Nâng cao chất lượng quy hoạch; tăng cường công tác quản lý quy hoạch.

    Hoàn thiện, bổ sung quy hoạch phát triển nông lâm nghiệp, thủy sản và quy hoạch phát triển nông thôn gắn với quy hoạch chung theo hướng sinh thái, bền vững. Vùng nông nghiệp trung du, miền núi (Lập Thạch, Tam Đảo, Bắc Tam Dương) phát triển chăn nuôi hàng hoá, nông lâm kết hợp; Vùng nông nghiệp đô thị (Mê Linh, Phúc Yên, Vĩnh Yên, vùng Quốc lộ 2 của Bình Xuyên, Tam Dương, Vĩnh Tường, Yên Lạc) sản xuất theo hướng đa canh, giá trị, chất lượng cao; Vùng nông nghiệp đồng bằng (Vĩnh Tường, Yên Lạc) đẩy mạnh thâm canh cây trồng, phát triển chăn nuôi, thuỷ sản hàng hoá. Tập trung xây dựng mô hình vùng sản xuất hàng hoá trong lĩnh vực trồng trọt và hỗ trợ theo cơ chế khuyến nông. Xây dựng và thực hiện các chương trình, đề án, dự án cụ thể để phát triển sản xuất nông nghiệp, xây dựng nông thôn mới, nâng cao đời sống nông dân.

    2. Về sử dụng đất đai:

    Giao đất trồng cây hàng năm, đất nuôi trồng thuỷ sản cho hộ nông dân có nhu cầu sử dụng ổn định, về cơ bản giữ nguyên như hiện nay như Luật Đất đai năm 2003 đã quy định. Hình thành thị trường đất nông nghiệp; khuyến khích tích tụ, chuyển nhượng, chuyển đổi, cho thuê, chuyển mục đích sử dụng đất trồng cây hàng năm sang đất nông nghiệp khác để nông dân yên tâm đầu tư phát triển sản xuất hàng hoá, phát huy tính tự chủ, năng động, sáng tạo trong sản xuất, kinh doanh, xây dựng các khu sản xuất hàng hoá tập trung, khu nông nghiệp công nghệ cao. Tạo điều kiện cho nông dân có nhu cầu phát triển sản xuất được thuê đất.

    Thực hiện tốt chủ trương cấp đất dịch vụ cho hộ gia đình dành đất để phát triển công nghiệp, du lịch và đô thị và chính sách đền bù đất cho nông dân. Khuyến khích nông dân góp cổ phần vào các doanh nghiệp bằng quyền sử dụng đất; tăng cường mối quan hệ giữa doanh nghiệp và người lao động.

    3. Về khoa học-công nghệ và khuyến nông:

    Đẩy mạnh ứng dụng các thành tựu khoa học-công nghệ tiên tiến vào sản xuất, trọng tâm là công nghệ sinh học, công nghệ thông tin. Có chính sách thu hút các nhà khoa học trong hợp tác chuyển giao tiến bộ kỹ thuật vào sản xuất. Tăng dần hàm lượng khoa học-công nghệ trong giá trị nông sản. Từng bước thực hiện cơ khí hoá và ứng dụng công nghệ cao trong sản xuất nông nghiệp.

    Tăng mức đầu tư cho công tác khuyến nông, khuyến lâm, khuyến ngư, nhất là vùng núi, khó khăn, đồng bào dân tộc thiểu số. Triển khai xây dựng chương trình giống cây trồng, vật nuôi, đảm bảo đủ giống tốt cung cấp cho sản xuất nông nghiệp.

    4. Về đào tạo ngành nghề:

    Khuyến khích và tạo điều kiện cho học sinh nông thôn vào học tại các trường đại học, cao đẳng, trung học chuyên nghiệp và học nghề.

    Đẩy mạnh công tác đào tạo nghề cho lao động nông nghiệp, nông thôn. Trong đào tạo, chú ý các ngành, nghề phù hợp với nhu cầu xã hội, đồng thời nâng cao chất lượng đào tạo đáp ứng yêu cầu của các doanh nghiệp, phục vụ cho phát triển công nghiệp, dịch vụ, làng nghề và cho xuất khẩu lao động. Quan tâm đào tạo nghề phổ thông cho lao động ở các độ tuổi phù hợp, giúp nông dân nâng cao kỹ năng, chất lượng lao động và có thể chuyển đổi nghề, tìm kiếm việc làm mới.

    Mở các lớp bồi dưỡng, cập nhật kiến thức tại chỗ cho nông dân về luật pháp, chủ trương, cơ chế, chính sách của Đảng, Nhà nước và của tỉnh về nông nghiệp, nông thôn, nông dân; kỹ thuật sản xuất cây trồng, vật nuôi; ngành nghề ở nông thôn; thương mại, dịch vụ cho sản xuất, đời sống; bảo quản, chế biến, tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp; lao động, việc làm; kỹ năng quản lý kinh tế hộ, trang trại...

    Xây dựng điểm tư vấn cho nông dân ở cấp xã. Thiết lập hệ thống giao lưu trực tuyến về luật pháp, cơ chế chính sách, thị trường, kỹ thuật... giữa nông dân với ngành nông nghiệp tỉnh, huyện, các cấp, các ngành của tỉnh, các cơ quan của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn.

    Đào tạo nâng cao trình độ cán bộ quản lý nông nghiệp, nông thôn, nhất là cán bộ quản lý chính quyền cơ sở, các doanh nghiệp nông nghiệp, hợp tác xã.

    5. Về giải quyết việc làm, nâng cao thu nhập cho người lao động:

    Xây dựng cơ chế chính sách khuyến khích các doanh nghiệp đầu tư vào địa bàn nông thôn, đặc biệt là các doanh nghiệp tiêu thụ và chế biến sản phẩm nông nghiệp. Mở rộng ngành nghề, có chính sách khuyến khích, hỗ trợ phát triển các làng nghề truyền thống, các nghề mới. Xây dựng và phát triển các thị trấn, thị tứ, các tụ điểm dân cư tập trung ở khu vực nông thôn.

    Đẩy mạnh phát triển công nghiệp, dịch vụ. Xây dựng cơ chế, chính sách thu hút mạnh đầu tư vào tỉnh, trong đó ưu tiên các dự án có công nghệ cao, đồng thời chú trọng thu hút các dự án sử dụng nhiều lao động để tạo nhiều việc làm mới cho lao động khu vực nông nghiệp, nông thôn.

    Đa dạng hoá các loại hình dịch vụ, mở rộng giao lưu, trao đổi hàng hoá. Khuyến khích và tạo điều kiện phát triển dịch vụ ở nông thôn, nhất là dịch vụ chế biến và tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp. Mở rộng các loại hình du lịch để giải quyết việc làm cho lao động nông nghiệp và nâng mức thu nhập của nông dân.

    Nghiên cứu thành lập cơ quan quản lý lao động ở nông thôn, giới thiệu lao động xuất khẩu. Ban hành và thực hiện cơ chế, chính sách khuyến khích xuất khẩu lao động.

    6. Về các chính sách hỗ trợ:

    Đề nghị Chính phủ cho tỉnh thí điểm miễn thuỷ lợi phí phục vụ sản xuất trồng trọt. Có cơ chế đầu tư để giải quyết nước tưới hoặc chuyển đổi cơ cấu cây trồng cho vùng khó khăn về nước tưới. Triển khai làm điểm và thực hiện từng bước chuyển công tác quản lý, khai thác và dịch vụ tưới của các hợp tác xã về các doanh nghiệp thủy nông quản lý.

    Hỗ trợ vác xin và kinh phí cho phòng, chống một số bệnh dịch gia súc, gia cầm nguy hiểm, nhất là cúm gia cầm, lở mồm long móng gia súc...

    Nghiên cứu và xây dựng cơ chế chính sách từng bước giảm đóng góp cho nông dân. Hỗ trợ cho hệ thống giáo dục mầm non qua việc từng bước miễn học phí cho các cháu mẫu giáo ở nông thôn; thực hiện chế độ phụ cấp cho giáo viên mẫu giáo theo trình độ và tăng định kỳ như cán bộ, viên chức ngành giáo dục bằng nguồn ngân sách tỉnh, trước mắt ưu tiên các xã nghèo, vùng khó khăn, dân tộc thiểu số. Vốn ngân sách Nhà nước tập trung đầu tư xây dựng hệ thống nhà trẻ, mẫu giáo tại các vùng nông thôn khó khăn. Có cơ chế, chính sách đẩy mạnh xã hội hoá đầu tư phát triển giáo dục mầm non ở những địa bàn có điều kiện.

    Mở rộng các hình thức tín dụng ở nông thôn, tạo vốn sản xuất cho nông dân, tăng mức vay và có các chính sách hỗ trợ lãi suất tiền vay để nông dân đầu tư phát triển sản xuất, chuyển nghề, học sinh gia đình nghèo đi học nghề, học cao đẳng, đại học, các đối tượng sau cai nghiện ma tuý, hết thời hạn giáo dục bắt buộc, mãn hạn tù.

    Đẩy mạnh công tác giảm nghèo. Xây dựng cơ chế, chính sách hỗ trợ, giúp đỡ hộ nghèo, đồng bào dân tộc thiểu số về vốn, đất sản xuất, đất ở và nước sinh hoạt, khuyến nông, khuyến lâm, khuyến ngư, về y tế, giáo dục, cải thiện về nhà ở; xây dựng hạ tầng thiết yếu cho các xã, thôn bản đặc biệt khó khăn, xã vùng II và xã nghèo của tỉnh.

    Đầu tư xây dựng một số chợ đầu mối giúp nông dân tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp. Từng bước xây dựng thương hiệu một số nông sản của tỉnh gắn với quản lý chất lượng đầu mối và hệ thống tiêu thụ.

    7. Về phát triển kinh tế hộ, kinh tế tập thể và doanh nghiệp trong nông thôn:

    Đổi mới hoạt động của các hợp tác xã, tạo điều kiện thuận lợi cho kinh tế tập thể và doanh nghiệp ở nông thôn phát triển. Khuyến khích mở rộng các hình thức hợp tác, liên doanh, liên kết phát triển sản xuất, phát triển liên hiệp các hợp tác xã chuyên ngành, đa ngành. Tạo điều kiện hình thành các hình thức hợp tác mới.

    Phát triển kinh tế hộ, trang trại, các ngành nghề, dịch vụ ở nông thôn, phát huy vai trò tự chủ của nông dân trong sản xuất, kinh doanh. Hình thành các trang trại chăn nuôi gia súc, gia cầm kết hợp trồng cây ăn quả, cây lâm nghiệp ở vùng đồi; trang trại thuỷ sản, chăn nuôi ngoài khu dân cư; trang trại sản xuất kinh doanh tổng hợp ở vùng đồng bằng; các trang trại sản xuất rau, hoa, sản xuất, chế biến nông sản vùng ven đô thị. Từng bước đưa chăn nuôi tập trung ra ngoài khu vực dân cư theo quy hoạch.

    8. Về tăng cường đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng:

    Xây dựng các khu sản xuất tập trung: Trồng trọt, chăn nuôi, tiểu thủ công nghiệp... và hỗ trợ xây dựng kết cấu hạ tầng: Đường giao thông, điện, xử lý chất thải... như đối với các khu công nghiệp, cụm công nghiệp trong tỉnh.

    Có cơ chế hỗ trợ để tiếp tục thực hiện chương trình cải tạo vùng trũng nuôi trồng thuỷ sản chuyên canh, sản xuất 1 lúa, 1 cá hoặc 2 lúa căn cứ vào qui mô và mục đích sử dụng sau cải tạo.

    Tiếp tục thực hiện cơ chế hỗ trợ để đẩy mạnh phát triển giao thông nông thôn. Nghiên cứu để có cơ chế, chính sách hỗ trợ phát triển giao thông nội đồng.

    Đẩy mạnh chương trình kiên cố hoá trường học, đầu tư trang thiết bị dạy và học theo hướng hiện đại. Tập trung chỉ đạo xây dựng các trạm y tế xã đạt chuẩn quốc gia; đầu tư xây dựng cơ sở vật chất, trang thiết bị để các trạm y tế làm tốt công tác chăm sóc sức khoẻ ban đầu cho nhân dân. Đầu tư xây dựng các thiết chế văn hoá-thể thao.

    Tập trung xây dựng mới và cải tạo hồ, đập, trạm bơm để cấp nước phục vụ sản xuất. Từ nay đến năm 2010, ưu tiên hoàn thành kiên cố hoá kênh loại I, loại II có lưu lượng lớn, các công trình trọng điểm, ở vùng miền núi và vùng khó khăn về nguồn nước, những công trình có hệ số mất nước cao.

    Tăng cường đầu tư xây dựng các công trình nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn. Hỗ trợ xây dựng các khu xử lý rác tại các xã, bể chứa rác thu gom ban đầu, nắp đậy cống, rãnh thoát nước thải trên các trục đường; hình thành các tổ thu gom rác, vệ sinh môi trường.

    Thực hiện tốt dự án nâng cấp lưới điện trung áp trên địa bàn. Xây dựng các mô hình quản lý điện nông thôn, giảm thất thoát điện năng.

    9. Về phát triển y tế, giáo dục, văn hoá - xã hội và an ninh, quốc phòng:

    Tiếp tục củng cố tổ chức, mạng lưới y tế cơ sở, hoàn thiện và nâng cao các dịch vụ y tế phục vụ chăm sóc, bảo vệ sức khoẻ nhân dân. Có chính sách ưu đãi đối với bác sỹ về công tác tại các trạm y tế xã, duy trì và phát triển lực lượng y tế thôn bản. Mở rộng mô hình chăm sóc sức khoẻ gia đình, thầy thuốc gia đình. Tăng mức đầu tư để củng cố mạng lưới y tế cơ sở. Đẩy mạnh thực hiện y tế học đường, bố trí đủ cán bộ y tế trong các trường học ở nông thôn.

    Đẩy mạnh xã hội hoá giáo dục-đào tạo. Có cơ chế chính sách phát triển các loại hình giáo dục, đào tạo. Chú trọng mở rộng qui mô và nâng cao chất lượng dạy nghề. Khuyến khích và tạo điều kiện phát triển quĩ khuyến học ở nông thôn.

    Tiếp tục thực hiện Nghị quyết TW5 (khoá VIII) về xây dựng nền văn hoá Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc. Đẩy mạnh tuyên truyền và xây dựng nếp sống văn hoá ở nông thôn. Tăng cường và nâng cao chất lượng các hoạt động văn hoá, văn nghệ, thể dục, thể thao. Nghiên cứu, sưu tầm, phục hồi các giá trị văn hoá truyền thống, nhất là bảo tồn, tu bổ, tôn tạo các di tích lịch sử văn hoá trọng điểm, các lễ hội tiêu biểu, độc đáo của dân tộc gắn liền với bài trừ các hủ tục. Thực hiện nghiêm túc nếp sống văn minh trong việc cưới, việc tang, lễ hội, mừng thọ, kỷ niệm ngày truyền thống, chống xa hoa, lãng phí. Nâng cao ý thức bảo vệ môi trường.

    Giữ vững ổn định chính trị và trật tự an toàn xã hội, giải quyết tốt các vấn đề xã hội, tạo môi trường thuận lợi cho phát triển kinh tế. Có cơ chế chính sách hỗ trợ để thực hiện đồng bộ, có hiệu quả các biện pháp phòng chống tội phạm, tệ nạn xã hội, kiềm chế, giảm tai nạn giao thông và đẩy mạnh phong trào toàn dân tham gia bảo vệ an ninh Tổ quốc.

    10. Về tổ chức và bộ máy:

    Tạo sự chuyển biến toàn diện, sâu sắc về nhiệm vụ xây dựng, chỉnh đốn Đảng, nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của các tổ chức cơ sở Đảng ở nông thôn, bảo đảm vai trò nền tảng, hạt nhân chính trị ở cơ sở, lãnh đạo toàn diện kinh tế-xã hội, chính trị, an ninh, quốc phòng. Xây dựng chính quyền, Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể chính trị vững mạnh, hoạt động có hiệu lực và hiệu quả. Thực hiện tốt qui chế dân chủ ở cơ sở.

    Củng cố, kiện toàn tổ chức bộ máy, nâng cao năng lực quản lý Nhà nước của ngành nông nghiệp và phát triển nông thôn. Tiếp tục nghiên cứu xây dựng đề án tổng thể về tổ chức bộ máy đảm bảo thực hiện nghị quyết đạt hiệu quả, trong đó thành lập phòng nông nghiệp các huyện trên cơ sở tách phòng kinh tế, thành lập các trung tâm đào tạo, bồi dưỡng, tư vấn, cung cấp thông tin cho nông dân, bố trí cán bộ nông nghiệp chuyên trách ở cơ sở.

    IV. TỔ CHỨC THỰC HIỆN.

    Các cấp uỷ Đảng lãnh đạo, chỉ đạo làm tốt công tác giáo dục, tuyên truyền sâu rộng các chủ trương, nghị quyết của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước và của tỉnh về nông nghiệp, nông thôn, nông dân, đặc biệt là Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ X, Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XIV đến cán bộ, đảng viên và nhân dân.

    Căn cứ Nghị quyết này, Ban Cán sự Đảng Uỷ ban nhân dân tỉnh xây dựng đề án tổng thể và chỉ đạo các sở, ban, ngành xây dựng các chương trình, đề án, dự án và kế hoạch cụ thể để tổ chức thực hiện.

    Các Ban xây dựng Đảng, Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể căn cứ chức năng, nhiệm vụ xây dựng chương trình, kế hoạch triển khai thực hiện Nghị quyết. Các cơ quan thông tin, báo chí của tỉnh có trách nhiệm tuyên truyền nội dung Nghị quyết đến cán bộ, đảng viên và nhân dân.

    Thành lập Ban Chỉ đạo thực hiện Nghị quyết của tỉnh do đồng chí Chủ tịch UBND tỉnh làm Trưởng ban; Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn là cơ quan thường trực.

    Văn phòng Tỉnh uỷ giúp Tỉnh uỷ kiểm tra, theo dõi việc thực hiện Nghị quyết; báo cáo kết quả với Ban Thường vụ Tỉnh uỷ và Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh.

    Nghị quyết này được phổ biến đến chi bộ.

    Nơi nhận:
    - Bộ Chính trị (B/c),
    - Ban Bí thư TW Đảng (B/c),
    - Các Ban Đảng và Văn phòng TW Đảng,
    - Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn,
    - Thường trực HĐND, UBND tỉnh,
    - Các đồng chí Tỉnh uỷ viên,
    - Các Ban cán sự Đảng, Đảng Đoàn,
    - Các Ban xây dựng Đảng,
    -
    huyện, thị uỷ, Đảng uỷ trực thuộc,
    - Các sở, ban, ngành, đoàn thể,
    - CPVP, CVNCTH, NC,
    - Lưu VPTU.
    -
    H1

    T/M TỈNH UỶ
    BÍ THƯ

    (đã ký)


    Trịnh Đình Dũng



     

     

Ý kiến bạn đọc

Tiêu điểm

Ý kiến của những “đầu tàu”

Ý kiến của những “đầu tàu”

KTNT - Ngay sau Đại hội đại biểu Hội Làm vườn Việt Nam lần thứ VI, Hội Làm vườn Việt Nam phối hợp với Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tổ chức...